DIỄN ĐÀN NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA

Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao

Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v..

Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh

Nationalist Vietnamese Forum

Home

TÓM LƯỢC KI NH TẾ THẾ GIỚI  . 10-11-08

 

                                             WHEN FORTUNE FROWNED

 

Thưa quư bạn đọc, tài liệu này gồm ba phần rơ rệt :

 

Thứ nhất là bản dịch về phúc tŕnh đặc biệt liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay

Thứ hai là một số dữ kiện thống kê rút ra từ các biểu đồ được ghi trong bản phúc tŕnh ấy

Thứ ba là phần nhận định liên hệ đến cuộc khủng hoảng hiện nay .

 

Bản phúc tŕnh đầy công phu và rất thâm sâu được các học giả thuộc tờ báo danh tiếng toàn cầu ECONOMIST  đăng trong số ấn bản ngày 11 tháng 10 năm 2008 đă cung cấp cho ta một tầm nh́n về những ǵ đă sảy ra về phương diện kinh tế tài chánh toàn cầu khi cao trào toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ trong hơn thập niên qua . Các hệ lụy do cao trào này gây ra đối với thế giới được bài báo nói đến một cách khéo léo nhưng không kém phần chua cay khi nhiều quốc gia mới nổi đă biết lợi dụng các kẻ hở để củng cố cho hệ thống tư bản nhà nước nhằm tạo ra một thứ vũ khí xâm lăng vô tiền khoáng hậu nhằm đạt cho bằng được tham vọng bành trướng của ḿnh .

 

Do thế khi đọc bản dịch này , xin quư bạn đọc nghiền ngẫm kỹ lưỡng  bản phúc tŕnh này - v́ các lư do tế nhị khác nhau - chỉ nói tới một cách rất vắn gọn và thuần túy về phương diện chuyên môn .

 

Chắc chắn bản dịch có nhiều sai sót v́ vốn liếng tiếng Anh của tôi rất giới hạn , nhưng v́ tấm ḷng đối với việc chung  -nhất là với thế hệ trẻ trong nước cũng như hải ngoại- chỉ xin quư vị rộng ḷng miễn thứ . Vị nào vốn tiếng Anh đầy đủ có thể đọc lại bản tiếng Anh trên tờ Economist và chỉ giáo cho các sai sót . Tôi xin rất mực đa tạ .

 

Xin đừng đổi tên tác giả để tránh ngộ nhận sau này như đă từng sảy ra đối với vài bài viết của tôi trong quá khứ .

 

PHẦN MỘT – BẢN DỊCH

 

Tháng 10-1929 đại khủng hoảng kinh tế sảy ra ở Mỹ , phải mất ba năm chính quyền Mỹ mới can thiệp bằng thỏa hiệp “ New dealt “ giữa các thế lực Mỹ để đưa Ông Franklin Roosevelt lên làm TT Mỹ . Sản lượng giảm 1/3 , thất nghiệp 25% .

Năm 2007 tháng 8 khi Bear Sterns vỡ nợ , chính quyền Mỹ không can thiệp . Tháng 9/08 khi Fredie Mac và Fannie Mae gặp khủng hoảng v́ nợ xấu mà hai Công Ty tài trợ địa ốc này đă gom lại từ nhiều công ty tài chánh khác lên đến 80% ; đồng thời Công Ty AIG – có lịch sử gần 100 năm được thành lập tiên khởi ở Thượng-Hải - là một công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới lâm vào khủng hoảng ; Lehman Brothers là một công ty tài chánh khác có lịch sử trên 150 năm cũng lâm vào thế khánh tận ; Washington Mutual (gọi tắt là Wamu) cũng như Wachovia , Lehman Brothers cũng như Merrill Lynch đều bị các ngân hàng thương mại mua ; Goldman Sachs và Morgan Stanley là hai công ty tài chánh trở thanh các ngân hàng thương mại .

 

Trong điều kiện bất trắc ấy FDIC – tức là tổ chức bảo đảm kư thác- đối với tiền kư thác trị giá 3.4 ngàn tỷ dollars đă ra lệnh ngăn cấm việc bán tháo chứng khoán của khoảng gần 900 lọai chứng khoán khác nhau của các công ty tài chánh tại Mỹ , đồng thời chính quyền đă mau chóng thông qua giải pháp cứu nguy tài chánh 700 tỷ dollars và cho phép Bộ Ngân-Khố được phép mua lại chứng khoán của các ngân hàng bị rơi vào t́nh trạng mất khả năng thanh toán . Theo các chuyên gia trong ngành th́ rồi ra chính quyền sẽ phải cứu nguy lên đến 1,000 tỷ dollars tức là gần gấp đôi chi phí cho cuộc chiến Irak . Mặc dù các biện pháp cứu nguy đă được mau chóng thông qua , nhưng thị trường chứng khoán khắp nơi trên thế giới đă tuột dốc thê thảm , chỉ trong không đầy ba tuần , Down  Jones đă rớt 37% ; chỉ trong tuần lễ chấm dứt vào ngày 11 tháng 9 Down Jones đă mất 1,500 điểm , một sự mất mát chỉ được ghi nhận vào ngày 21 tháng 7 năm 1933 mà thôi . Khủng hoảng tài chánh tại Mỹ đă ảnh hưởng ngay đến Âu-Châu và cả Nhật Bản khi 5 ngân hàng lớn ở Âu-Châu tuyên bố ở trong t́nh trạng mất khả năng thanh toán và các chính phủ Âu-Châu cũng đă mau chóng cứu nguy bằng các biện pháp như Anh Mỹ đă làm .

 

Những ai đă làm ăn buôn bán ắt hiểu thế nào là mất khả năng thanh toán ; t́nh trạng này phát sinh khi quỹ dự trự tiền mặt ( cash flow ) không đủ để thanh toán các chi phí hoặc các cam kết do nhiều căn nguyên khác nhau ( như con nợ không thanh toán kịp thời hoặc chính con nợ bị vỡ nợ , chứng khoán mà các công ty ấy sở hữu mất giá trên thị trường nên không thể bán ra để thu hồi vốn để thanh toán các khoản nợ mà công ty phải thanh toán cho trái chủ ….) khi ấy công ty phải vay nợ qua đêm để tạm thời bù lấp khoản thiếu hụt bằng cách vay chỗ này để trả cho chỗ kia , đến một lúc nào đó chính các định chế tài chánh từ chối không cho vay qua lại nữa th́ công ty nào thiếu tiền mặt sẽ phải đối diện với sự vỡ nợ ( bankrupcy ).

 

1 – NGUỒN GỐC CỦA VẤN ĐỀ

 

Sự bùng nổ của thị trường nhà đất cùng với tín dụng được cấp phát qúa dễ dàng là đầu mối của cuộc khủng hoảng hiện nay, thị trường địa ốc tại Mỹ đă giảm giá 20% và dự tính sẽ c̣n giảm 10% nữa trong các tháng tới đây , t́nh h́nh này được coi là giá cả đă xuống thấp gần đến mức của thời kỳ khủng hoảng kinh tế trước đây . Tại nhiều quốc gia, t́nh h́nh có thể diễn biến tồi tệ ; như tại Anh chẳng hạn nợ liên quan đến địa ốc cao hơn Mỹ, giá cả lên mau hơn Mỹ nhưng lại giảm giá nhẹ hơn Mỹ. Trong ước tính mới nhất của Quỹ Tiền-Tệ Quốc Tế th́ tổng số nợ bị mất trên phạm vi ṭan cầu xuất phát từ Mỹ sẽ đạt đến mức 1,4 ngàn tỷ dollars, tức là tăng 50% so với mức ước tính được đưa ra hồi tháng tư là  945 tỷ dollars , trong đó 760 tỷ đă được các ngân hàng và các công ty bảo hiểm ghi lỗ.

 

Các ngân hàng toàn thế giới đă báo cáo số bị mất là 600 tỷ nhưng đă bổ sung vốn là 430 tỷ . Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế ước tính các ngân hàng Âu-Châu và Mỹ sẽ bị mất khoảng 10 ngàn tỷ dollars vốn tương đương với 14.5% trong tổng số tín dụng của ngân hàng trong năm 2009 . Tỷ lệ gia tăng tín dụng tổng quát tại Mỹ sẽ giảm xuống dưới 1% so với 9% sau thế chiến ; nếu thiếu sự can thiệp 700 tỷ dollars của chính phủ theo Quỹ Tiền Tệ Quốc-Tế th́ tín dụng tại Mỹ sẽ giảm 7.3% , Anh giảm 6.3% và 4.5% tại phần c̣n lại của Âu-Châu.

 

Khi ấy các quốc gia công nghiệp sẽ đi vào khủng hoảng v́ tín dụng bị xiết chặt và v́ giá dầu gia tăng trong năm 2008 . Sản lượng giảm , thất nghiệp tăng , tiêu thụ giảm sút . T́nh h́nh này sẽ dẫn ngay đến việc tiết kiệm nhiều hơn tại các quốc gia đă công nghiệp hóa kế đến sẽ dẫn đến t́nh trạng yếu kém tại các quốc gia đang phát triển . Nhưng lịch sử đă để lại một bài học để đời đó là :” khi ngân hàng lớn bị khủng hoảng th́ phải dùng ngay công quỹ một cách mau chóng để tái tài trợ hoặc mua lại các khoản nợ xấu , làm như vậy sẽ giảm thiểu tối đa các tổn hại cho người thọ thuế cũng như cho nền kinh tế nói chung “ Thụy Điển năm 1990 nhờ mau chóng áp dụng bài học này nên đă tương đối mau chóng ra khỏi cơn suy thoái, nhưng Nhật-Bản v́ không dám hành động như vậy nên người thọ thuế Nhật đă phải hứng chiu đến 24% GDP ( tổng sản lượng nội địa ) .

 

Mỹ chỉ mới sung dụng khoảng 7% GDP cho cuộc khủng hoảng này , rất thấp so với 16% GDP cần thiết phải sung dụng cho một cuộc khủng hoảng tương tự . Như thế đạo luật cứu nguy nợ xấu ( troubled asset relief programme , TARP ) đem lại kết quả như thế nào là điều thật không rơ ràng . Bộ Ngân-Khố sẵn sàng để mua lại tất cả khoản nợ xấu với giá thấp , nếu ngân hàng cần tài trợ th́ Bộ ngân-khố cũng sẽ làm , điều đó cho thấy Mỹ đă chuẩn bị để hành động mà là hành động quyết liệt .

 

Vào thời điểm nhất định th́ đó là lư do để lạc quan ; nhưng với các nền kinh tế mới nổi như nước Tầu chẳng hạn th́ kinh tế của họ nay lệ thuộc nhiều hơn vào nền kinh tế các quốc gia đă công nghiệp hóa nên thị trường chứng khoán cũng như tiền tệ của họ đă giảm giá nghiêm trọng tuy vậy các nền kinh tế ấy tuy có chậm lại nhưng không bị tan vỡ . Quỹ tiền tệ quốc tế dự kiến năm 2008 tỷ lệ phát triển của nhóm các quốc gia này sẽ là 6,8 % , nhưng sẽ giảm xuống c̣n 6,1% trong năm 2009 . T́nh h́nh này tuy có thúc đẩy cho nền kinh tế toàn cầu nhưng có thể vẫn không đủ để cữu văn kinh tế thế giới khỏi bị suy thoái .

 

 

 

 

Trong hơn 1 năm qua , giá thực phẩm tăng 55% , giá dầu tăng gấp đôi mặc dù hiện nay đang có chiều hướng thuyên giảm , đă đẩy tỷ lệ lạm phát tại các quốc gia công nghiệp lên 4%  và tại các quốc gia đang phát triển lên 9% . Do thế tại khắp nơi tín dụng đang bị xiết lại để ngăn ngừa lạm phát . Trong điều kiện giá cả như hiện nay , tỷ lệ lạm phát tại Mỹ có thể xuống đến mức 1% vào giữa năm tới (2009) và có thể dẫn đến t́nh trạng giảm phát ( deflation ) .

 

 

 

Cho dù nhiều quốc gia hiện theo đuổi chiều hướng tách rời khỏi sự lệ thuộc vào dollars , nhưng sự tan vỡ của dollars vẫn là một thảm kịch đối với thế giới .

 

Biến cố này sẽ ảnh hưởng lâu dài đối với kinh tế thế giới như thế nào ? Dự kiến các hậu quả trong điều kiện khủng hoảng liên tục là một vấn đề cực kỳ khó khăn . Nhưng thật rơ ràng là cho dù chưa sảy ra đại họa th́ chiều hướng toàn cầu hóa cũng sẽ thay đổi. Trong hai thập niên qua,  t́nh trạng quá độ trong kinh tế thế giới đă dẫn đến cuộc đụng độ với chủ trương “ thị trường tư bản tự do “ ( free - market capitalism ) được lănh đạo trong thực tế bởi Hoa-Kỳ . Thương mại tự do , chuyển dịch vốn tự do trong khi thiếu vắng luật pháp trong công nghiệp nội địa cũng như tài chánh xuyên biên giới được coi là biểu tượng của toàn cầu hóa . Nhưng tại nhiều nơi trên thế giới trong thời kỳ quá độ này lại cổ vũ cho kiểu thị trường được điều tiết bởi nhà nước ( markets over governments , tức là kiểu tư bản nhà nước ). Tiến tŕnh này nay đang được đảo ngược lại theo ba cách sau :

 

Thứ nhất : phương tây phải tái canh cải luật pháp về tai chánh , ít nhất đối với khu vực tài chánh hiện đại quá tự do như thị trường tín dụng trị giá 55 ngàn tỷ dollars cần được đưa vào hệ thống luật pháp đến nơi đến chốn ; luật về vốn cần được canh cải để giảm thiểu các sự chênh lệch nhưng lại đủ uyển chuyển cho cả hệ thống ; các luật lệ chồng chéo nhau tại Mỹ cần được canh cải. Mức độ kiểm soát cần được áp đặt ít dựa vào ư thức hệ . Trong cuộc khủng hoảng các quỹ tiết kiệm và cho vay ( savings and loan ) năm 1980 cũng đă dẫn đến việc một số ngân hàng bị vỡ nợ nhưng không dẫn đến thảm kịch , luật lệ ảnh hưởng không nhiều đối với biến cố này ; nhưng trong cuộc đại khủng hoảng ( 1929 ) Hoa Kỳ đă tái cấu trúc lại toàn hệ thống tài chánh cùng với luật lệ đi kèm .

 

Thứ hai : Sự quân b́nh giữa chính quyền và thị trường đă thay đổi trong nhiều khu vực khác hơn là với tài chánh . Tại nhiều nơi chấn động do giá cả gia tăng trong vài năm qua đă dẫn đến việc nhiều chính khách bị chê trách v́ đă để cho t́nh trạng đầu cơ tích trữ sảy ra . Năm 2007 và đầu năm 2008 , bạo động đă sảy ra ở 30 quốc gia ,chính quyền nhiều nơi đă quyết định ngưng xuất cảng đối với một số mặt hàng thiết yếu đối với đời sống nhân dân, điều chỉnh giá cả , giới hạn việc mua bán hàng hóa trên thị trường ( futures trading ) . Đó là lư do khiến ṿng đàm phán Doha đă thất bại .

 

Thứ ba : Hoa-Kỳ mất vị thế cường quốc kinh tế cũng như vai tṛ dẫn đạo về trí tuệ ; các quốc gia mới nổi đang từng bước dẫn đạo thương mại toàn cầu như thế đương nhiên họ cũng sẽ dẫn  đạo nền tài chánh toàn cầu trong tương lai . Điều này rất đúng với Trung Quốc là nước tạo dựng tư bản trên diện rộng để từng bước san bằng cách biệt với các nền kinh tế phương Tây khi các quốc gia có mức tiết kiệm cao cùng với nhóm các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa ( petro dollars) tung tiền vào thị trường . Điều này được Phó Thủ-Tướng Trung-Quốc Wang Qishin tuyên bố trong cuộc họp mới đây với Mỹ đă tuyên bố răng “ bậc thầy nay có vấn đề “.

 

Câu hỏi lớn bây giờ là liệu người học tṛ đang lớn mạnh với người thầy đang xuống cấp học được điều ǵ qua biến cố này . Đâu là giới hạn của sự quân b́nh giữa chính quyền với thị trường . Bản phúc tŕnh này nêu ra một số vấn đề liên quan đến việc cần phải tái cấu trúc lại luật pháp  nhất là trong lănh vực tài chánh khi mà các cải cách đă bị chối bỏ bởi các chế độ bị sơ cứng v́ chủ trương kiểm soát . Thực ra cũng là sai lầm khi chỉ trích các chế độ áp đặt quyền kiểm soát như vậy cũng như các chế độ chủ trương một nền tài chánh hiện đại trên căn bản của thị trường tự do . Thế giới đă trải qua thời kỳ quá độ hàng thế kỷ trước khi chuyển hóa đến thị trường chứng khoán cũng như việc chính quyền nhận trách nhiệm trực tiếp đối với sáo trộn hiện nay . Hướng dẫn sai lầm mọi thứ từ nhiên liệu sinh học đến lăi xuất địa ốc sẽ làm sáo trộn thị trường . Chính sách làm mất tiền sẽ dẫn đến việc làm nổ tung quả bóng tín dụng , khích động  sẽ dẫn đến t́nh trạng nguy hiểm, tự do hơn trong thị trường uyển chuyển vẫn đóng góp  cho thị trường toàn cầu nhiều hơn là với bàn tay cứng của nhà cầm quyền .

 

2 – LUẬT VỀ TÀI CHÁNH ĐƯỢC ÁP ĐẶT ĐẾN ĐÂU

 

TT Bush đă nói với một số đảng viên Cộng-Ḥa rằng : “ Wall street cần phải tỉnh rượu và nên tự dứt bỏ tính vơ đoán đồng bóng về công cụ tài chánh của ḿnh . Khá lâu trước biến cố tháng 9 này , Ông Paul Volcker sau khi đă nặng lời với giới tài chánh Mỹ đă cho điểm D ; nguyên văn lời ông nói hôm tháng tư là “ với thành phần ưu tú nhất với các tưởng thưởng lớn lao , hệ thống tài chánh mới đă thất bại khi thử thách với thị trường “ . Biến cố tài chánh tuần qua làm cho ta thật khó để không đồng ư với nhận định như vậy . Với biện pháp cứu nguy 700 tỷ vừa được ban hành bằng tiền công quỹ , với sự biến mất của  năm ngân hàng đầu tư lớn của Mỹ hoặc bằng việc khai phá sản hoặc bằng việc mua lại là những chứng cớ rơ nhất về sự thất bại của Wall street trước thử thách của thị trường .

 

Nhưng cái ǵ thực sự ở đằng sau và tại sao ? Kết tội tính tham ăn hay học thuyết thị trường tự do ( được đề cao bởi nhóm cố vấn thân cận với J.F Kennedy , trong đó Rostow là lư thuyết gia chính ) cũng chỉ là dựa theo cách thức suy nghĩ truyền thống . Tổng-Thống Pháp Nicolas Sarkozy mới đây tuyên bố : ‘ thế giới cần đưa các chủng tộc vào chủ nghĩa tư bản tài chánh “ , Tổng Thống Brazil - Luizinacio Lula Da Silva – tuyên bố :” cần chống lại cái ṿng luẩn quẩn của nạn đầu cơ tích trữ “ . Phân tích nghiêm túc vấn đề đặt ra ba câu hỏi sau : thứ nhất : “ thế nào là một hệ thống tài chánh trong sáng theo Ông Volcker ; thứ hai là :” sự bất ổn hiện nay không thể tách rời khỏi hệ thống tài chánh hiện đại , các sai lầm cùng với các xuyên tạc đă ảnh hưởng tới đâu “ ; thứ ba là :” đâu là quân b́nh giữa  phí tổn và lợi nhuận , bằng cách nào để cải tiến “ .

 

Khám phá của Anh-Mỹ ( Anglo-Saxon )

 

Điểm son của hệ thống mới là cào bằng các rào cản, ít luật pháp , tư bản được sung dụng thông qua thị trường Wall Street . Đó là sự tiếp nối của hệ thống tài chánh truyền thống theo đó : các ngân hàng thương mại được định chế hóa trong việc cho vay đối với các khách hàng được tín nhiệm và ghi nợ trên sổ sách kế toán . Hệ thống mới được thực hiện trong ba thập niên qua đă tạo ra sự bộc phát trong vài năm qua nhờ ba yếu tố , đó là : băi bỏ rào cản luật pháp, cách tân kỹ thuật , gia tăng tính năng động trong việc huy động vốn trên phạm vi toàn cầu .

 

Ở sàn giao dịch thị trường , các định chế tài chánh cấp phát tín dụng ghi nợ trên sổ sách nhưng cũng bán các khoản nợ ấy cho các định chế tài chánh khác . Việc trao đổi này trong năm 2001 đă vượt quá trị gía tín dụng mà các ngân hàng phát ra . Sau đó, quy mô gom nợ gia tăng ( chủ yếu là nợ địa ốc ) khi ngân hàng phân loại nợ tín dụng theo khả năng hoàn trả của trái chủ ( từ rất tốt đến tốt đến xấu …) để từ đó đặt ra các rào cản đối với nợ xấu và tiến tŕnh này được sàng lọc liên tục .

 

Trong khi đó , điện toán cũng đẽ dàng  gây ra t́nh trạng lạm dụng bởi các con nợ được xếp vào loại nguy hiểm . Theo Ngân-Hàng Thanh-Toán Quốc-Tế th́ trị giá các hợp đồng trên quy mô toàn cầu trong năm 2007 đă vượt quá con sô 600 ngàn tỷ dollars ( tức là gấp 11 lần tổng sản lượng toàn cầu ) . Một thập niên trước, con số này chỉ là 75 ngàn tỷ dollars mà thôi (tương đương với 2.5 tổng sản lượng toàn cầu) . Trong vài năm sau này , tỷ lệ các tín dụng xấu đă gia tăng rất rơ rệt để từng bước dẫn đến sự thất bại của hệ thống tín dụng hiện nay . Trung tâm của hệ thống tài chánh mới nằm ở Wall street và London nhưng chuyển dịch của tư bản vốn xuyên biên giới sảy ra trên quy mô toàn cầu – đặc biệt tại các quốc gia giầu có – đă làm gia tăng sự phân ră . Theo kinh tế gia Gia Maria Milesi-Ferretti của Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế (IMF) th́ các trái khoản cũng như tín dụng ngoại quốc giữ bởi các quốc gia giầu có đă tăng lên gấp 5 lần so với GDP ( tổng sản lượng nội địa) trong 30 năm qua và gấp hai lần chỉ trong thập niên qua . Thời kỳ quá độ về tài chánh của các nền kinh tế đang nổi ( emerging economies) đă dẫn đến việc các nền kinh tế đang nổi xuất khẩu tài chánh đến các nước đă công nghiệp hóa do dự trữ ngoại tệ không ngừng gia tăng của các nước đang nổi ( emerging countries).

 

 

 

 

 

Cải cách hệ thống tài chánh hiện đại sẽ tạo ra lợi ích cho các phía tham gia , nhưng liệu các cải cách ấy có cải cách cái gốc gây ra t́nh trạng như hiện nay không ? Điều này lệ thuộc một phần vào việc quan niệm thế nào là một nền tài chánh hữu hiệu hoặc bằng vào việc cứ luẩn quẩn trong các hành động thiếu hợp lư cũng như nạn đầu cơ tích trữ.

 

Tính hợp lư trong nền tài chánh không cần luật lệ (deregulation) là tạo lợi nhuận tối đa cho mọi thành viên tham gia , tư bản vốn được chuyển dịch theo cách hữu dụng nhất, thúc đẩy đà tăng trưởng kinh tế và cải thiện an sinh xă hội . Cách tân tuy mở rộng hiểm nguy nhưng cũng làm giảm thiểu chi phí về vốn ( capital ) , cho phép nhiều người hơn có thể tiếp cận với tín dụng nhưng cũng làm cho toàn hệ thống trở nên hồi phục mau hơn trước các bất trắc .

 

Mọi người đều nghĩ rằng : hệ thống tiền tệ bất ổn . Nhưng ổn định luôn dẫn đến t́nh trạng thái quá , khủng hoảng và thị trường tài chánh tự do chỉ dẫn đến các mất mát lớn lao hơn . Quan điểm này được Hyman Minsky nêu lên khi ông phát biểu :”Một nền kinh tế ổn định luôn khuyến khích việc cào bằng cùng với tham vọng mở rộng cơ cấu nợ nần , tài chánh ổn định chỉ là ảo tưởng “ .

 

Canh cải hệ thống tài chánh không thể sảy ra tự nhiên được mà là sự đáp ứng của chính quyền . Nhiều định chế trở nên quen thuộc v́ chúng dựa vào luật lệ tài chánh như luật bắt các ngân hàng phải giữ mức an toàn vốn , ngân hàng t́m cách điều chỉnh kế toán để giảm thiểu mức an toàn vốn pháp định . Cho nên khi khủng hoảng sảy ra , ngân hàng mất khả năng thanh toán .

 

Chính trị gia giữ một vị trí quan trọng , chính phủ Mỹ đă nhúng tay vào tín dụng nhà đất từ rất lâu trước chính phủ Mỹ chánh thức can thiệp vào hai đại công ty Freddie Mac và Fannie Mae . Như lời Charles Calorimis thuộc viện đại học Columbia và PeterWallison thuộc Viện doanh nghiệp Mỹ ( American Enterprise Institute ) đă chỉ ra : “ tín dụng địa ốc xấu đă nổ ra từ năm 2004 v́ chính phủ muốn dân chúng  mua nhà với tín dụng dễ dàng .

 

Lịch sử cũng để lại là : tài chánh mở rộng khi đồng tiền rẻ giá ; đồng tiền Mỹ c̣n rẻ giá hơn nữa trong vài năm sau này . Đó là do t́nh trạng trong thời gian dài lạm phát thấp , kinh tế ổn định đă làm cho các nhà đầu tư coi thường nguy hiểm, nhưng cũng c̣n yếu tố khác nữa là do Quỹ Dự-Trữ Liên-Bang đă giữ lăi xuất quá thấp trong thời gian quá dài để dụ cho tư bản vốn từ các nền kinh tế mới nổi đổ vốn vào các quốc gia phương Tây .

 

Nền tài chánh hiện đại không dành chỗ cho tính tự cô lập , phí tổn và thành quả ít ra cũng là kết quả của các ư đồ của nhà tài chánh . Liệu cuộc khủng hoảng này có thúc đẩy kinh tế phát triển, an sinh cũng như ổn định hơn không ?

 

Phí tổn và lợi ích

 

Không có câu trả lời thỏa đáng cho cả ba vấn đề nêu trên . Như Ông Volcker đă nêu lên :” kinh tế Mỹ đă mở rộng một cách sôi nổi trong thập niên 50 và 60 nhờ hệ thống tài chánh không quá hiện đại như trong thập niên qua , nhưng rất khó để so sánh thập niên 50 với ngày nay . Nhiều kinh tế gia vẫn chia rẽ về mặt lư thuyết về tầm quan trọng của tài chánh đối với tăng trưởng , nhiều dữ kiện cho thấy đó chính là vấn đề .

 

Theo Ông Ross Levine kinh tế gia thuộc viện đại họ Brown là một chuyên gia về vấn đề này -khi theo dơi các hoạt động xuyên biên giới – đă nêu lên là :” quốc gia nào có hệ thống tài chánh sâu rộng th́ phát triển nhanh hơn , đặc biệt nếu họ có thị trường chứng khoán vững chắc cùng với hệ thống ngân hàng tư . Tăng trưởng được mở rộng không phải chỉ v́ tiết kiệm gia tăng mà v́ sự sung dụng vốn được huy động hữu hiệu hơn, sản xuất được cải tiến .

 

Nhiều nghiên cứu tại Mỹ đă chứng minh rằng : “ nước nào trong thập kỳ 70 ít luật lệ ngân hàng hơn đă tăng trưởng mau hơn so với quốc gia khác. Năm 2006 Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế đă so sánh hệ thống tài chánh ít luật lệ thuộc khối Anglo-Saxon với hệ thống tài chánh truyền thống -    ngân hàng nắm quyền chi phối toàn diên - như tại Đức và Nhật và nhận thấy hệ thống thuộc khối Anglo-Saxon đă tỏ ra sung dụng tài nguyên  mau lẹ hơn từ khu vực yếu kém sang khu vực có tiềm năng tăng trưởng mau hơn .

 

 

 

 

 

Nhiều kinh tế gia nêu ra vấn đề canh tân tài chánh và tái phối trí tư bản do việc canh tân ấy đem lại là một trong những lư do giải thích sự gia tăng đều đặn của sản xuất tại Mỹ trong thời kỳ từ giữa thập kỳ 1990. Kỹ thuật không thôi không đủ để giải thích hướng tiến tới ấy , v́ internet và truyền thông không dây ( wireless communications ) thích ứng với mọi quốc gia . Điều làm cho nước Mỹ khác với các nơi khác là chủ trương mạnh mẽ trong việc cung hiến các cơ hội cho việc ứng dụng các kỹ thuật mới . Các nhà quản lư biết điều đó nếu họ biết thích nghi mau chóng , một hệ thống tài chánh uyển chuyển sẽ tưởng thưởng cho họ nhờ vốn tư bản rẻ .

 

Cách tân về tài chánh thúc đảy tăng trưởng nhưng không có nghĩa là luôn luôn phải như vậy. Không phải mọi bước đột phá về kỹ thuật đều cải tiến sản xuất . Sự thịnh vượng trong lănh vực nhà đất để củng cố thị trường chứng khoán đă đóng góp rất ít vào tăng trưởng trong đường dài . Một nền tài chánh tập trú vào địa ốc thay v́ đầu tư làm gia tăng sản xuất có thể phải nhờ vả vào sự bảo đảm của chính quyền hơn là chính hệ thống tài chánh .

 

Vậy đời sống nhân dân th́ sao , ngay cả khi sự cách tân về tài chánh không thúc đẩy tăng trưởng th́ tự nó vẫn tốt hơn trong việc cải tiến nhân sinh (welfare) . Nền tài chánh hiện đại cải tiến việc mọi người có thể tiếp cận với tín dụng. Máy điện toán cung cấp kỹ thuật để người cho vay tiêu chuẩn hóa điểm tín dụng , như vậy người cho vay có thể tránh được nhiều rủi ro khi cho vay . Nghiên cứu cho thấy trong khu vực kinh tế Anglo-Saxon tự cắt giảm chi tiêu ít hơn khi biến động ảnh hưởng đến lợi tức của họ so với các quốc gia có hệ thống tài chánh ít hiện đại hơn . Tiêu thụ hạ giảm cũng có nghĩa là chu kỳ kinh tế hạ giảm . Nhiều nhà kinh tế tin rằng : cách tân tài chánh , bao gồm việc tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn , là lư do chính yếu của t́nh trạng tự điều chỉnh sâu rộng đối với chu kỳ thương mại trong hai thập kỳ qua .

 

T́nh trạng vỡ nợ hiện nay đ̣i hỏi phải duyệt lại các tính toán liên hệ đến khía cạnh nhân sinh , không phải là tối thiểu v́ nhiều người đă tiếp cận với tín dụng khi giá nhà bộc phát . Nhu cầu  về an toàn tín dụng địa ốc đă được nới lỏng  đă làm cho gia nhà tăng lên . Cách hoạt động dựa trên máy điện toán của Wall Street đặt căn bản trên giá hiện hữu đă không tính toán được mức độ tăng giá cũng như dự kiến được lúc xuống giá nên đă dẫn đến t́nh trạng bùng nổ nợ tại Mỹ . Nợ địa ốc tại Mỹ đă tăng đều đặn từ gần 80% đối với lợi tức khả dụng vào năm 1986 lên đến 100% vào năm 2000 và 140% vào năm 2007 . Khi giá cả giảm th́ sự giầu có giảm theo , đà giảm chi tiêu tại khối kinh tế Anglo Saxon đă sảy ra nhiều hơn so với các quốc gia khác , nên đẫn đến t́nh trạng vỡ nợ  .

 

Điều này dẫn đến vấn đề thứ ba là nền tài chánh hiện đại đă đóng góp thêm yếu tố dẫn đến t́nh trạng bất ổn định . Ông Volcker đă nhấn mạnh rằng : sau thế chiến hai , tài chánh không bị khủng hoảng v́ vào thời điểm ấy , nền tài chánh vẫn bị chi phối bởi luật lệ và các định chế được h́nh thành từ thời đại khủng hoảng năm 1929 . Nhưng thập niên 1950 là một bất thường  Trong cuốn sách “ This time is different : eight centuries of financial folly “ th́ Giáo Sư Carmen Reinhart thuộc Viện Đại Học Maryland và Giáo Sư Ken Rogoff thuộc viện Đại Học Harvard sau khi khảo sát chu kỳ khủng hoảng tài chánh trong 8 thế kỷ đă nêu lên nhận định là : “ mặc cho các cách tân về tài chánh trong các năm qua , chúng ta vẫn nh́n thấy một thời kỳ ổn cố “ . It nhất cũng cho đến khi biến động hiện nay .

 

Nguồn gốc cơn băo

 

Sự xụp đổ hiện nay chỉ mới là một trong nhiều yếu tố đo lường rủi ro , sự khốc liệt của t́nh h́nh cũng là một vấn đề . Về mặt lư thuyết th́ cội nguồn của nền tài chánh , chứng khoán cũng như cách chọn lựa tín dụng cũng làm gia tăng rủi ro nhưng đồng thời cũng làm mở rộng thị trường tài chánh cũng như làm giảm thiểu các thiệt hại đối với nền kinh tế khi bị khủng hoảng . Trước khi có thị trường chứng khoán , ảnh hưởng của khủng hoảng rất dữ dội và thường tập trung . Khủng hoảng địa ốc tại Texas có nghĩa là tín dụng địa ốc giữ bởi ngân hàng Texas Bank sẽ bị thiệt hại , tác động đến các công ty tài chánh tại Texas . Cho nên hệ thống phân quyền và toàn cầu sẽ trải mỏng các rủi ro để tránh các hậu quả khi khủng hoảng . Ông Greenspan trong cuốn sách mới đây “ The age of turbulence “ đă nêu lên : sau cuộc phá sản trong lănh vực viễn thông hồi thập niên 90 , khi hàng tỷ dollars biến thành mây khói nhưng không có ngân hàng nào bị phá sản .

 

Sự uyển chuyển của hệ thống hiện nay dường như đang được thể hiện trong cuộc khủng hoảng hiện nay . Giả dụ vỡ nợ địa ốc tại Tampa hay Cleveland có thể làm cho ngân hàng ở Đức bị mất mát , điều đó cho thấy toàn hệ thống hoạt động . Nhưng tính co dăn cũng để lộ cho thấy sự phù du khi rủi ro được tập trú vào một khu vực nào đó . Nhiều ngân hàng cấp tín dụng địa ốc nhưng được bảo chứng bởi chứng khoán nhưng đă thất bại khi cần xử dụng v́ họ đă nắm quá nhiều rủi ro ngay trong bảng kết toán của họ , điều đó là do họ làm sai chứ không thể đổ lỗi cho chứng khoán được .

 

Càng khủng hoảng trong hệ thống tài chánh hiện đại càng cần t́m ra cách thức giải quyết t́nh trạng bất định của rủi ro và ai làm việc này . Để được hữu hiệu th́ thị trường càng cần được uyển chuyển . Năm qua đă chứng minh rằng : t́nh trạng bất định xuất phát từ tính không uyển chuyển gây ra . Tập trú vào tỷ lệ lời cao cùng với hệ thống cung cấp tín dụng giá sỷ trong ngắn hạn thay v́ tập trú vào kư thác - là hai mặt của tài chánh hiện đại- đă dẫn đến thảm họa hiện nay . Điều này đă đẩy các định chế ấy dễ dàng lún sâu vào khủng hoảng hơn so với các ngân hàng truyền thống , ngân hàng đầu tư , quỹ đầu tư thả nổi ( hedge funds) và các định chế tài chánh khác cũng đóng góp vào việc làm cho nền kinh tế ít có sức chịu đựng hơn khi khủng hoảng tài chánh sảy ra .

 

 

 

 

 

Đó là kết luận trong bản phân tích mới đây của các tác giả  - Subir Lall , Roberto Cardarelli và Selim Elekdag – đă được ấn hành trong tài liệu mới nhất liên quan đến dự kiến kinh tế toàn cầu (World economic outlook) . Các tác giả đă đi đến kết luận rằng : “ ảnh hưởng kinh tế đối với khủng hảng tài chánh có thể nghiêm trọng hơn đối với quốc-gia có thị trường tài chánh hiện đại Bản nghiên cứu đă xem xét 113 đề mục liên hệ đến khủng hoảng tài chánh tại 17 quốc gia trong hơn ba thập kỳ , cũng như các ảnh hưởng sâu rộng đối với nền kinh tế nói chung . Các tác giả nhận thấy : khủng hoảng tài chánh chu kỳ sảy ra đối với nền tài chánh hiện đại cũng như nền tài chánh truyền thống theo đó ngân hàng cho vay đóng vai tṛ chủ đạo . Nhưng suy thoái trở nên nặng hơn đối với khối các quốc gia thuộc nhóm Anglo-Saxon v́ hệ thống cho vay của họ tập trú vào việc cho vay tối đa để kiếm lời khi kinh tế hưng thịnh nên dễ bị đổ vỡ hơn khi kinh tế suy thoái .

 

Quá đà và quá đà trong việc t́m lợi nhuận là rất nguy hiểm , nhưng phải chăng t́nh trạng đó gây ra bởi các công cụ tài chánh mới hay bởi t́nh trạng thiếu vắng luật pháp ? Không đơn giản như vậy , sự quá đà về tài chánh luôn sảy ra sau cuộc cách tân ; hăy nghĩ lại nền kinh tế bong bóng DOT.COM  hay với xe lửa hồi thế kỷ 19 bùng phát  rồi đổ vỡ . Nhưng hăy nh́n lại lịch sử : “ Mất điều kiện kiếm tiền luôn thúc đẩy h́nh thành cơ hội mới theo đó , đồng tiền rẻ sẽ thúc đẩy tính co dăn để làm tăng giá trị tài sản, để rồi lại thúc đẩy tính co dăn mới . Như thế tài chánh hiện đại có nghĩa là san sẻ sự tàn phá theo cách mới .

 

Xác định tính co giăn

 

Hăy lấy tai họa năm rồi mà xét th́ hệ thống tài chánh thuộc khối Anglo-Saxon cần tái cấu trúc như thế nào ? khi chính thị trường đang đ̣i hỏi phải thay đổi triệt để từ hệ thống ngân hàng đầu tư kiếm lợi nhuận tối đa chuyển sang một hệ thống ít uyển chuyển hơn cũng như cần nhiều luật lệ hơn đối với các ngân hàng thương mại . Một vài cải tiến nhạy bén đối với cấu trúc tài chánh đă tỏ ra hữu ích như : thành lập trung tâm giao hoán các nợ xấu để tránh cho khách hàng khỏi mất hàng tỷ dollars khi một đại công ty như AIG vỡ nợ .

 

Câu hỏi quan trọng là : “ ở đâu và bao nhiêu để luật về tài chánh được mở rộng “. Biết bao vấn đề cần được bàn luận cũng như đề nghị bởi Ngân hàng trung ương, Cơ Quan quản trị chứng khoán, Bộ Ngân-Khố cũng như các viện đại học liên hệ đến việc chứng khoán hóa các nợ địa ốc được tuôn vào Wall street . Nhưng hệ thống tài chánh được cách tân cũng chỉ chịu một phần nào đó của các phê phán mà thôi cho nên luật cải cách cuối cùng cũng chỉ giữ một phần nào đó của toàn bộ giải pháp chung cuộc .

 

Đă có nhiều tranh luận tỷ như đề nghị thành lập cơ quan chuyên biệt về điểm tín dụng để thông tri về t́nh trạng tín dụng của người vay đối với cơ quan cấp tín dụng địa ốc . Nhưng vấn đề ở chỗ cơ quan chuyên trách điểm tín dụng bị kẹt cứng ở giữa cách thức buôn bán với việc xử dụng chúng như cộng cụ luật pháp . Cả thị trường lẫn phía luật pháp đều dùng điểm tín dụng như phương cách đo lường rủi ro .

 

Một đề nghị khác được nhiều người chia xẻ là : thay đổi toàn cấu trúc tài chánh để tránh việc chỉ tập trú vào việc kiếm lời trong ngắn hạn . Việc chính phủ Mỹ mua lại một số ngân hàng cũng là nhằm tránh việc trả lương cao cho các cấp lănh đạo các ngân hàng bị vỡ nợ khi họ đă được hưởng lợi từ các ngân hàng ấy . Đó là một giải pháp tồi v́ chính phủ thường rất kém cỏi trong việc quản lư vi mô ( micromanagement ) trong khuôn khổ các ngân hàng . Ngay cả đối với ngân hàng khuyến khích các nhà quản lư cần xem xét thật kỹ lưỡng khi cho vay cũng vẫn đi vào khủng hoảng . Như tại Bear Stearns và Lehman Brother, nhân viên giữ một phần khá lớn cổ phần .

 

Liệu việc giám sát nghiêm ngặt của chính quyền có dẫn đến kết quả tốt hơn không ? Không ai c̣n nghi ngờ ǵ về hệ thống phức tạp , tản quyền và chồng chéo giữa sự giám sát của Liên-Bang lẫn Tiểu-Bang cần được cải tiến ( như AIG chẳng hạn về mặt kỹ thuật được giám sát bởi Tiểu Bang Nữu-Ước ). Nhưng với khối thị trường mới như thị trường trao đổi toàn cầu trị giá 55 ngàn tỷ dollars cần được giám sát nghiêm ngặt hơn hẳn . Tính minh bạch và sự trong sáng là cực kỳ cần thiết đối với các định chế tài chánh mới ấy. Một cơ quan đă được thành lập để giám sát hai đại công ty cho vay địa ốc là Freeddie-Mac và Fannie Mae , nhưng vẫn không thể xem nhẹ tính khinh xuất có thể sảy ra . Bây giờ cần tập trú vào việc giám sát các quỹ đầu tư thả nổi ( không cam kết , hedge fund ) vốn được coi là quỹ ít bị kiềm chế bởi luật pháp nhất hiện nay .

 

Tái cấu trúc luật pháp cần phải rất cẩn trọng để theo dơi các hệ lụy khó lường trước được . Bất cứ một cách tân nào đối với hệ thống tài chánh hiện đại như t́nh trạng vỡ nợ tín dụng cần được duyệt xét để tránh t́nh trạng bị quy trách cho luật ngân hàng hiện hành . Cách tân của ngày mai sẽ được định chế bởi luật pháp của tương lai . Ngay cả t́nh trạng vỡ nợ như hôm nay th́ nhà ngân hàng vẫn cần được tưởng thưởng và được khuyến khích hơn là những nhà làm luật tài chánh . Người làm luật lúc nào cũng đi sau một bước .

 

Cải cách là rất khả thi , con đường cải cách đến trực tiếp sau kẻ hiểm ác chính : thái quá cũng như cách thái qúa trong việc cào bằng các cách biệt . Đó là lư do chính yếu tại sao nhà làm luật cần ban hành luật tỷ lệ vốn để khuyến khích hoạt động mạnh hơn trong thời kỳ kinh tế sầm uất (boom) nhưng vẫn có lối thoát khi t́nh trạng vỡ nợ sảy ra  . Điều này rất có ư nghĩa đối với các nhà giám sát các lănh vực tài chánh cần nh́n rộng ra ngoài phạm vi công ty của ta để thấy sự ổn cố của cả hệ thống tài chánh nói chung , nhưng không phải là trên b́nh diện quốc gia .

 

Điều quan trọng là chính quyền không duyệt xét kế hoạch cải tổ tài chánh một cách đơn phương. Hệ thống tài chánh hiên đại xuất phát từ bối cảnh được thiết lập bởi luật pháp và các nhà chính trị , như Ông Hank Paulson Bộ Trưởng Ngân Khố nói với Quốc - Hội trong buổi điều trần về kế hoạch mua lại các ngân hàng là :’ Quư vị tức giận , tôi cũng tức giận khi người thọ thuế mắc câu , nhưng xin lưu ư quư vị rằng : tất cả chúng ta đều mắc câu do các luật lệ do chúng ta đặt ra. Sự cải cách tùy thuộc vào cách thức mà các chính trị gia nh́n nhận vấn đề cũng như giải quyết vấn đề . “

 

3 – BÀI HỌC THỰC TỪ THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA BIẾN ĐỘNG

 

Trong khu Fatehpuri thuộc thành phố Dehli cổ , nơi tọa lạc của trung tâm mua bán hàng hóa giao sau từ dầu , đường , đến nhiều sản phẩm khác . Ở thị trường hàng hóa  Nữu-Ước ( New york Mercantile Exchange ) các giao dịch cũng được thực hiện như vậy . Nhưng cả hai nơi đều bị các yếu tố chính trị chi phối . Trong vài năm qua chính quyền Ấn-Độ đă ra lệnh nghiêm cấm việc mua bán giao sau ( future ) đối với một số nhu yếu phẩm thiết yếu cho đời sống nhân dân như gạo, lúa ḿ, nhằm ngăn ngừa t́nh trạng tệ hại có thể sảy ra . Trong vài tháng qua Quốc-Hội tại Mỹ cũng đă thông qua luật làm nản ḷng những kẻ buôn bán dầu thô trên thị trường . Ngày 18 tháng 9 Hạ-Viện Mỹ đă thông qua dự luật ấn định giới hạn quy mô buôn bán dầu thô đối với các quỹ thả nổi ( hedge fund ) quỹ hưu trí nhằm tránh việc tái diễn vụ Enron khác . Các quỹ ấy được phép tham gia mua bán trên thị trường mà không bị chính quyền nḥm ngó nếu tuân thủ các giới hạn luật định . Nhật Bản cũng xiết chặt kiểm soát đối với thị trường hàng hóa  Trung-Cộng giới hạn việc các công ty nước ngoài mua bán trên thị trường hàng hóa tại Trung –Quốc .

 

Giá cả biến động trở thành mối bận tâm đối với quần chúng  đặc biệt đối với các chính trị gia . Năm 1947 , khi chế độ kiểm soát giá được áp đặt trong thời chiến chấm dứt đă đẩy giá cả leo thang phi mă , chính quyền Harry Truman đă đ̣i hỏi mọi trao đổi phải được niêm yết giá trên thị trường đến 33% . Năm 1958 Quốc-Hội Mỹ cấm buôn bán theo lối futures đối với hành cũng là nhằm mục tiêu tương tự .

 

Chẳng phải chỉ các chính trị gia phiền trách các nhà tài chánh không thôi . George Soros là một nhà đầu tư lăo luyện đă tuyên bố hồi đầu năm là : “ giá cả hàng hóa cũng sẽ nổ tung “ . Michael Masters là người chuyên quản lư quỹ thả nổi đă tuyên bố trước một Ủy-Ban thuộc Quốc-Hội hồi tháng 6 là : ‘ giá dầu thô 130US /barrel là không phản ảnh thực trạng tài chánh , giá dầu có thể xuống một nửa . Shyam Aggarwal là Giám-Đốc điều hành của thị trường hàng hóa Rajdhani ở Ấn-Độ tuyên bố : “ việc mua bán đối với các loại thực phẩm chính sẽ bị tạm thời đ́nh chỉ  đối với các giao dịch dựa trên việc giao hàng trong tương lai (futures) .

 

Tổng quát th́ các vị này đều nêu cùng lư do : “ nguồn tiền từ các quỹ đầu tư thả nổi (edge funds) hay quỹ hưu hoặc đại loại như vậy đă đổ vào thị trường hàng hóa giao trong tương lai đă khuấy động thị trường mua bán bằng tiền mặt đối với một số mặt hàng cụ thể mà không hề thúc đẩy sản xuất để người tiêu thụ có thể tính toán được các bất trắc cũng như h́nh thành một hệ thống giá cả trong sáng và hữu hiệu hơn . Thị trường hàng hóa thực tế bị thao túng bởi các quỹ thả nổi (edge funds) , các ngân quỹ  của các nước giầu có và họ đă áp dụng đường lối phân chia vốn đầu tư thành nhiều dạng khác nhau nên rất khó kiểm soát .

 

Nếu nhận định này là dúng th́ hậu quả là rất sâu rộng . Hàng hóa tác động ngay đến đời sống nhân dân chứ không như chứng khoán hay công trái , đặc biệt tại các nước nghèo nơi mà phần lớn lợi tức được dành để mua lương thực . Nạn làm giá mà không t́m phương cách hữu hiệu nhằm cải tiến giá cả th́ điều đó là điều tốt để tạo dựng sự quân b́nh giữa chính quyền với thị trường .

 

Phản ảnh và người phản ảnh

 

Tiên khởi là người phản ảnh . Hàng hóa phản ảnh ngay tài sản của nhà đầu tư . Theo quỹ đầu tư Barclays (Barclays capital) đă nắm giữ trị giá hàng hóa lên đến 270 tỷ dollars , một sự gia tăng chỉ vỏn ven có 10 tỷ dollars cách nay 6 năm . Các hợp đồng mua bán trên quy mô toàn cầu đă tăng gấp 4 lần kể từ năm 2001 , trị giá trao đổi đă đạt đến mức 9000 tỷ dollars ( 9 trillion dollars ) tức là gấp 15 lần .

 

 

 

 

Sự gia tăng này trùng hợp với lượng hàng hóa gia tăng trong đường dài, giá cả trong năm 2002 đă tăng lên mau chóng v́ giá dollar giảm trong khi hầu hết các trao đổi trên thị trường hàng hóa đều dựa vào dollar . Nhưng trong 6 năm qua , giá cả cũng gia tăng so với các chỉ tệ khác  như Euros .

 

Các phản ảnh này cũng có thể giải thích bởi t́nh trạng quá mong manh của thị trường khi cơn băo tài chánh nổ ra hồi tháng tám mới đây . Một số đại công ty ngập nợ đă thúc đẩy nhà đầu tư chuyển sang mua bán hàng hóa để được an toàn hơn . Khi Quỹ Dự-Trữ Liên-Bang Mỹ giảm lăi xuất , điều này làm cho các nhà quản lư tiền bạc lo sợ lạm phát cho nên họ vội chuyển tiền vào các khu vực có tích sản cứng như dầu . T́nh h́nh này lại tạo ra quả bong bóng mới để rồi lại nổ tung thôi .

 

Nh́n gần th́ lư thuyết về sự phản ảnh của thị trường không mấy khả quan . Thứ nhất  không thấy có các chỉ dấu minh bạch liên hệ giữa việc nhà đầu tư mua hàng hóa với việc mua bán trả ngay . Thí dụ một quỹ đầu tư ngưng mua bán đối với việc giao hàng trong tương lai ( future ) một mặt hàng nào đó th́ mặt hàng ấy sẽ xuống giá ngay , cho dù trong khi các mặt hàng khác không xuống giá thậm chí c̣n tăng giá nữa . . Thứ hai là : một số mặt hàng vẫn tăng giá trong vài năm qua như quặng  sắt chẳng hạn không được rao bán trên thị trường  và ít có cơ hội kiếm lời hơn . Thứ ba là : khối lượng tiền bạc gia tăng mau chóng đối với thị trường hàng hóa là do sự gia tăng giá cả , v́ khi giá tăng th́ giá trị thực của quỹ tăng ngay cả khi không cần đổ thêm tiền vào đó .

 

Cuối cùng th́ dự trữ hàng hóa đă giảm dưới mức trung b́nh được ghi nhận . Điều này là quan trọng v́ khi gia tăng tồn trữ sẽ làm sáng lên cơ hội kiếm tiền đối với các mua bán dựa trên việc giao hàng trong tương lai (future) . Khi cơ hội thúc đẩy giá dầu tăng th́ sẽ có người mua để bán lại kiếm lời hoặc chờ đến ngày giao hàng . Như vậy luôn tồn tại một số khá lớn dầu chưa bán được , mặc dù dự trữ dầu cùng với nhiều mặt hàng khác đă giảm mức tồn trữ trong mấy năm qua .

 

Sự thiếu vắng các rào cản không phải là yếu tố chủ yếu làm mất đi cơ hội kiếm tiền một cách vô tội . Như Roger Bootle thuộc Capital Economics đă chỉ ra : chế độ bảo hộ trong thương mại chỉ nhắm mục đích giữ một lượng hàng hóa lớn hơn mà thôi, không bao giờ thành công cả . Thị trường hoạt động ngược lại , ngay khi muốn kiểm soát giá th́ giá cả leo thang ngay -ít ra là trong ngắn hạn -cho dù lượng hàng tồn trữ không hề gia tăng . Đối với một số mặt hàng như hầm mỏ hoặc dầu khí , nếu muốn giảm sản lượng nhà sản xuất chỉ cần bơm ít hơn mà thôi . Khi giá cả gia tăng trong 6 tháng đầu năm nay các giàn bơm dầu đă hoạt động hết công xuất . Saudi  Arabia là quốc gia duy nhất có sẵn các giàn khoan dự trữ nên bất cứ điều ǵ sảy ra , họ sẽ thúc đẩy bơm thêm ngay .

 

Tất cả các điều ấy đủ cho thấy việc làm giá sẽ đẩy sản xuất gia tăng là sai , thị trường đă băo ḥa , các nhà đầu tư đă gia tăng số dự trữ trong nửa năm đầu của năm 2008 . Nhưng trong dài hạn - với đà giảm giá hiện nay – sẽ dễ dàng giải thích theo nhăn quan kinh tế cổ điển .

 

Quá nhiều , Quá ít , Quá trễ

 

Trong 50 năm qua giá cả hàng hóa trên thị trường đă giảm xét về tỷ lệ so với các sản phẩm và dịch vụ v́ cung cầu luôn quân b́nh với nhau . Khi dân số toàn cầu gia tăng đă tạo ra mức cầu về calories gia tăng mănh liệt , nông  sản gia tăng . Nhưng t́nh trạng mong manh cũng như các bất ổn lớn đang dẫn đến chiều hướng suy giảm như đă từng sảy ra hồi thập niên 1970 khi hầu hết các mặt hàng đều tăng giá liên tục trong nhiều năm

 

Giá cả biến động do sự thay đổi bất ngờ giữa cung và cầu , con người phải ăn cho dù mùa màng thất bát sẽ tạm thời làm giảm nguồn dự trữ . Cần cả năm mới mở được giếng dầu . Trong thuật ngữ kinh tế th́ giá cả biến động do cung cầu chỉ là ngắn hạn , một sự bộc phát từ cả hai phía đều dẫn đến sự thay đổi lớn lao ngay .

 

Cuộc khủng hoảng về hàng hóa hồi năm 1970 xuất phát từ việc không dự liệu được t́nh trạng giảm thiểu mức cung trong ngắn hạn , bao gồm cả việc Khối Ả-Rập cấm vận dầu , mùa màng bị thất bát trong hai năm 72 và 74 cũng như cuộc cách mạng Hồi-Giáo ở Iran năm 1979 . Giá cả nhảy vọt phần lớn v́ không dự liệu được nhu cầu gia tăng đột ngột .

 

Kinh tế thế giới tăng trong lâu dài hơn điều mong đợi của nhiều người . Năm 2003 chẳng hạn , Quỹ Tiền-Tệ Thế-Giới dự kiến kinh tế thế giới tăng 4% liên tục trong 3 năm sau đó . Thực tế th́ kinh tế toàn cầu đă tăng 4,5% từ năm 2003 đến năm 2007 . Kinh tế Trung Quốc theo dự kiến của Quỹ Tiền-Tệ Thế -Giới tăng đều dặn 7,3% trong khi thực tế kinh tế Hoa-Lục tăng đều dặn 10,6% . Khi các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng ngoài dự đoán th́ nhu cầu tiêu thụ của họ gia tăng mạnh mẽ khi họ cảm thấy giầu có hơn . Đặc biệt trong lănh vực dầu khí cũng như hàng công nghệ .

 

Lấy dầu làm thí dụ , từ năm 1998 đến 2002 , nhu cầu gia tăng trung b́nh là 1,1% . Nhưng từ năm 2003 đến 2007 nhu cầu đă gia tăng 2,1% hầu hết từ các nền kinh tế mới nổi [ nhu cầu dầu thuộc khối  Tổ-Chức Hợp-Tác và Phát-Triển kinh tế (OECD) từ năm 2006 đă giảm ] . Chỉ một ḿnh nước Tầu đă chiếm đến 1/3 số gia tăng hàng năm , với sắt thép và nhiều nguyên liệu sống khác , Hán cũng chiếm phần gia tăng rất đáng kể .

 

Cái sai của chính quyền

 

Giầu hơn không phải là tất cả vấn đề đằng sau vụ tăng nhu cầu tiêu thụ . Chính quyền  đă bóp méo sự thật khi đưa ra các chỉ dấu về giá cả một cách thô kệch . Trong nhiều nền kinh tế mới nổi , chính quyền kiểm soát giá cả đối với một số nhiên liệu chính như dầu cặn chẳng hạn và luôn giữ giá thấp hơn giá thị trường . Trong khi tại Mỹ giá xăng trung b́nh 1 dollars /lít th́ tại Saudi  Arabia là 13 cent , trong khi tại Venezuela là 16 cent . Điều này cho thấy các quốc gia Trung-Đông đă gia tăng mạnh mẽ lượng dầu tiêu thụ . Năm 2007 cho thấy tiêu thụ gia tăng trong vùng này chiếm ¼ số gia tăng về lượng dầu sản xuất thêm , cho dù họ chỉ nắm giữ một phần khiêm nhường đối với kinh tế toàn cầu . Khi giá tăng cao , một số quốc gia như Mă-Lai , Đài Loan, Trung Quốc, Ấn-Độ đă từng bước chấm dứt t́nh trạng bao cấp để nâng giá trong mấy tháng vừa qua . Bắc-Kinh đă tăng giá hai lần vào tháng 11-07 và tháng 6-08 . Điều này làm giá xăng tại Tầu không cách biệt mấy so với Mỹ , nhưng các loại nhiên liệu khác vẫn c̣n quá thấp . Tại nhiều quốc gia khác vẫn duy tŕ t́nh trạng bao cấp giá cả , điều này về lâu dài sẽ gây nguy hại cho nền tài chánh quốc-gia , nhưng nguy hại hơn hết là chính sách ấy sẽ ngăn cản giá cả gia tăng để giảm bớt đà tiêu thụ trong nước .

 

 

 

 

 

Các nước giầu có phương Tây đang từng bước chuyển sang xử dụng năng lượng lấy ra từ bắp để tránh bớt khí thải carbon , điều này sẽ dẫn đến sự bùng phát nhu cầu tiêu thụ dầu biofuels cuối cùng th́ rồi ra sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến thực phẩm .

 

Theo phúc tŕnh của OECD th́ nhu cầu về dầu thực vật là yếu tố chính gây ra t́nh trạng tăng giá thực phẩm trong vài năm sau này . Giá lúa mỳ tăng 70% , đậu nành tăng 40% . Giá dầu tăng cũng làm giá phân bón các lọai gia tăng theo .

 

Thay v́ nh́n nhận vai tṛ của ḿnh trong việc làm tăng giá thực phẩm th́ nhiều chính khách phương Tây ( trong đó có TT Bush ) đă đổ lỗi cho các quốc gia mới nổi là họ đă tiêu thụ thịt nhiều hơn với mức mà họ có thể làm ra ( như Ấn-Độ, Tầu ) , cho dù nhân dân các nước ấy vẫn c̣n tiêu thụ thịt ít hơn hẳn so với phương Tây . Nhưng sự chuyển hướng này không đủ để giải thích hiện tượng giá cả tăng vọt trong năm 2006 . Chính năng lượng thực vật đă gây ra vấn nạn này .

 

Bùng phát tiêu thụ cùng với chính sách sai lầm của chính phủ là các yếu tố chính để giải thích sự bùng phát giá cả trong vài năm qua , tuy vậy nhà sản xuất không phải là không có trách nhiệm , ít nhất là về dầu thô khi các nước xuất khẩu cố t́nh làm giá để kiếm lợi .

 

Giá dầu được giữ ở mức rất hạ trong thập niên 1990 , khối OPEC đă gia tăng sản lượng đáng kể trong thời gian sau này , nhưng nhóm các quốc gia nằm ngoài OPEC đă không hưởng ứng . Một lần nữa , các quốc gia lại can thiệp vào vấn đề này . Hầu hết trữ lượng dầu đều nằm trong tay các công ty dầu khí quốc doanh . Họ luôn xử dụng lợi tức từ dầu để phục vụ cho các mục tiêu chính trị hơn là đầu tư làm gia tăng sản lượng .

 

Nền kinh tế nông nghiệp tại các quốc gia mới nổi không được cung cấp đủ phương tiện , điều này gây ra bởi các quốc gia giầu có đă đẩy giá lương thực tăng lên trong năm 2007 đến đỗi 30 quốc gia đă phải đi đến quyết định hạn chế xuất khẩu đối với nông phẩm , t́nh h́nh này đẩy giá cả lên cao hơn nữa . Giá lúa gạo bị ảnh hưởng nặng nhất v́ chỉ có 4% được buôn bán xuyên biên giới so với 13% đối với lúa mạch và 19% đối với lúa ḿ. Các quốc gia Tầu, Việt, Cambodge, Ấn, Ai Cập chiếm 40% lượng lúa gạo xuất khẩu trong năm 2007 , lệnh cấm xuất khẩu đă đẩy giá cả lên gấp ba lần chỉ trong vài tuần lễ .

 

Trong lúc bất ổn này th́ giá cả thực phẩm các loại sẽ tiếp tục gia tăng . Ít ra cho đến khi các dự án đầu tư mới có thể đủ để trấn an về mối âu lo thiếu thốn mọi thứ . Đối với thực phẩm th́ sự gia tăng nhu cầu đột biến trong vài năm qua là do các chính quyền đă cố t́nh gây ra t́nh trạng ấy .

 

Ngược lại với các trách cứ đối với cơ hội kiếm tiền , công việc chính đối với thị trường trong tương lai là chuyển đến cho các trại chủ một tín hiệu vững chắc và căn bản để họ tự biết điều chỉnh trong mối cân bằng giữa cung với cầu đối với các sản phẩm vật chất . Thiếu một tín hiệu mạnh như vậy th́ biến động về giá cả sẽ rất nghiêm trọng đối với các sản phẩm vật chất cũng như tái lập mối quân b́nh giữa cung với cầu .

 

 

 

 

 

Can thiệp của chính quyền  kết hợp với các điều chỉnh của thị trường đă làm giá cả giảm mạnh trong vài tháng qua , mặc dù cũng c̣n do việc đồng dollar lên giá trở lại . Giá dầu ở Âu-Châu đă giảm 25% so với tỷ giá dollar . Một vài sự chuyển hướng tế nhị khác như vài quốc gia xuất khẩu dầu chính yếu đă hủy bỏ đường lối kiểm soát xuất khẩu dầu . Việc gỡ bỏ rào cản đă khôi phục niềm tin đối với nguồn cung cấp trong ngắn hạn . Chỉ số giá thực phẩm đă giảm 23% trong tháng 9 mà chẳng ai lên tiếng tố cáo là cơ hội kiếm tiền đă làm cho giá giảm cả .

 

Thị trường dầu khí đă tự điều chỉnh khi các giếng dầu của Ả-Rập Seoud đi vào hoạt động để làm gia tăng số cung . Về phía cầu th́ người tiêu thụ đă đáp ứng . Đối diện với giá 4 dollar/gallon xăng , người Mỹ nay đi xe nhỏ hơn , ít lái xe hơn , xử dụng phương tiện di chuyển công cộng nhiều hơn .

 

Nhưng yếu tố quan trọng nhất là nền kinh tế toàn cầu bất ngờ trở nên ảm đạm hơn . Cám ơn , khi giá dầu tăng th́ sản lượng ở Âu-Châu và Nhật-Bản cũng giảm , trong tháng 8 đă thấy xuất hiện các dấu chỉ cho thấy các nền kinh tế mới nổi cũng đang sa sút khi viễn ảnh kinh tế toàn cầu đang chậm lại một cách rơ rệt . Giá cả chắc sẽ suy yếu thôi .

 

Mức cầu bất ngờ gia tăng đă đẩy giá cả leo thang , đó là dấu báo về nền kinh tế thế giới trở nên quá nóng . Bây giờ là lúc cần thay đổi mau chóng . Đây là trách nhiệm của các nhà chính trị hơn là những nhà mại bản . Nhưng cũng cần kể đến các sai lầm của các ngân hàng trung ương nữa .

 

 CƠN SỐT TIỀN TỆ  NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG GÂY RA TRUYỆN NÀY , HỌ CÓ SỬA ĐƯỢC KHÔNG ?

 

Thành lập năm 1930 , Ngân Hàng Thanh-Toán Quốc-Tế ( Bank for International Settlement BIS ) là định chế tài chánh quốc tế lâu đời nhất hiện nay , trụ sở tại Basel đóng vai tṛ đầu năo của các ngân hàng trung ương trong việc hợp tác quốc tế liên hệ đến các kỹ thật về tài chánh . Vậy tại sao các nhà kinh tế thuộc BIS lại trách cứ các ngân hàng trung ương cũng như hệ thống giám sát về t́nh h́nh tồi tệ hiện nay ?

 

Cả năm rồi khi BIS đă cảnh báo các ngân hàng trung ương về t́nh trạng thanh toán quá mức trên quy mô toàn cầu và yêu cầu các ngân hàng trung ương coi chừng đổ vỡ ngay cả khi chỉ số lạm phát thấp , thúc đẩy các nhà làm chính sách trên b́nh diện toàn cầu cần tập trú vào các chính sách nhằm giảm nhiệt đối với  kinh tế thế giới , khuyến cáo các nhà giám sát không phải chỉ tập trú vào từng công ty riêng lẻ mà c̣n cần xem xét toàn bộ hệ thống tài chánh nói chung . Tai họa hôm nay theo BIS bắt nguồn từ nguồn gốc căn bản là : “ thế giới đă đắm ch́m quá lâu trong t́nh trạng  số tín dụng quá lớn mà không có bất cứ biện pháp chống đỡ nào “ điều này được nêu lên trong phúc tŕnh hồi tháng sáu .

 

Hai vấn đề đối với ngân hàng trung ương ,  thứ nhất họ cùng với các nhà điều tiết thị trường đă ngủ vùi trên tay lái nên không hề hay biết về hiểm nguy đang h́nh thành ở phía trước với đồng tiền quá rẻ khi hệ thống tài chánh hiện đại được h́nh thành . Thứ hai là họ bơm qúa nhiều tiền vào thị trường để tạo bong bóng tín dụng trong thời gian quá lâu .

 

Các trách cứ được tập trung vào Quỹ Dự-Trữ Liên-Bang Mỹ (Fed) đơn giản v́ Hoa-Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới nên quyết định về lăi xuất của họ ảnh hưởng ngay đến toàn cầu . Fed ca tụng chính sách đồng dollar rẻ cho nên khi tín dụng địa ốc đổ vỡ th́ dẫn ngay đến cuộc khủng hoảng tài chánh . Fed đă đẩy hệ thống tài chánh Mỹ đến chỗ bất quân b́nh nghiêm trọng vượt ngoài khả năng tự điều tiết của thị trường .

 

Giám sát không thể coi là phép lạ nhưng rơ ràng là Fed có thể làm tốt hơn việc này . Họ không có sẵn chức năng pháp lư để can thiệp vào quá tŕnh cấp phát tín dụng khi giá nhà bộc phát (việc ấy do tiểu bang) nhưng họ có các phương cách khác để lên tiếng báo động đồng thời ban hành các biện pháp nhằm làm giảm nhiệt bằng các luật của Liên-Bang để bảo vệ người tiêu thụ . Ông Alan Greenspan Chủ Tịch của Fed lúc quả bóng địa ốc mở rộng nhưng không thấy t́nh trạng nguy hiểm nên đă không can thiệp đúng mức . Người kế vị đă thấy việc ấy nên đă ban hành các biện pháp siết chặt lại.

 

Vậy chính sách tài chánh ra sao ? Đây là cách Fed tiếp cận vấn đề bằng cách làm ngơ trước nạn bong bóng , giá chứng khoán cũng như giá nhà bằng cách cắt giảm lăi xuất ngay cả khi bong bóng đă nổ rồi. Ngân-Hàng Dự-Trữ Liên-Bang Mỹ đă chơi song hành hai chính sách nguy hiểm về tiền tệ đó là chấp nhận bơm tiền vào nơi nguy hiểm đồng thời đẩy tín dụng đi đến chỗ quá đáng .

 

Fed bị trách cứ về ba điểm chính : thứ nhất là nới lỏng tiền tệ quá đáng trong thời gian quá lâu nhất là sau cú suy thoái năm 2001 , sợ t́nh trạng giảm phát như đă sảy ra ở Nhật năm 2002 và năm 2003 , Fed cắt lăi xuất qua đêm xuống c̣n 1% và giữ nguyên lăi xuất này đến cả năm . Sai lầm thứ hai là Biện pháp siết chặt quá yếu như đă làm trong  các năm 2004 đến 2006 . Sai lầm thứ ba là giảm lăi xuất xuống c̣n 2% trong đầu năm nay trong nỗ lực dùng công cụ tài chánh để tránh khủng hoảng . Hai sai lầm đầu dẫn đến giá nhà tăng , sai lầm thứ ba dẫn đến giá hàng hóa tăng .

 

Cũng có điều hay đối với hai trách cứ đầu khi Fed âu lo về t́nh trạng giảm phát đă sảy ra ở Nhật vào vài năm đầu của thập kỳ này nên Fed phải thủ vào lúc đó . Nhưng thất bại trong việc siết chặt tín dụng năm 2004 là một sai lầm to lớn . Lăi xuất thấp trong đoản kỳ khuyến khích việc mở rộng tín dụng địa ốc thả nổi đă đóng góp vào việc đổ vỡ giá nhà và đẩy Wall street đến chỗ nguy hiểm là điều có thể dự kiến được .

 

Trong tầm nh́n cận cảnh về nước Mỹ th́ việc Fed cắt lăi xuất năm nay là quá yếu, nhiều tháng trước khi tai họa sảy ra th́ Wall Street cũng đă siết chặt tín dụng cùng với Fed . Nhưng bất ổn nay trải quá rộng khi việc vay mượn gây tốn phí cho công ty cũng như các cá nhân cũng đă hoạch định ngân sách xong xuôi cho dù Fed đă quyết định siết chặt tín dụng . Bàn về kinh tế yếu kém hiện nay thực cũng hơi khó để nói rằng Fed đă sai lầm khi cắt lăi xuất trong năm nay . Dù vậy Fed vẫn bị phán xét về suy thoái tại Mỹ hiện nay . Các quyết định của họ - trong lúc và sau khi quả bóng bị x́ hơi – là nhằm tránh một cuộc suy thoái đột ngột đối với hệ thống tài chánh toàn cầu , việc này cũng được các ngân hàng trung ương khác thực thi . Vấn đề quan trọng nhất hiện nay liên hệ đến khối dự trữ ngoại tệ khổng lồ hiện sở hữu bởi các nền kinh tế mới nổi lớn như Trung-Hoa với cách thức mà họ liên kết với đồng dollar theo một hệ thông được gọi là Bretton Woods II . Bretton Woods I tạo dựng một nền tài chánh toàn cầu được lập căn trên đồng dollar có khả năng chuyển hóa thành vàng tồn tại từ 1944 đến đầu thập niên 1970 .

 

Núi tiền

 

Dự trữ khổng lồ tại các nền kinh tế lớn mới nổi đă tuôn chảy ngược lại các quốc gia đă công nghiệp hóa , đặc biệt là Mỹ . Điều này đặt ra rất nhiều vấn đề . Đầu tư tại nhiều quốc gia Á-Châu đă đổ vỡ tiếp theo sau cuộc khủng hoảng tài chánh hồi cuối thập niên 1990 . Giá dầu tăng mạnh trong vài năm qua đă đổ tiền vào các quốc gia xuất khẩu dầu như Ả-Rập Seoud, Nga  nhanh hơn là khả năng tiêu tiền của các quốc gia này . Nhưng các chính sách liên quan đến quản trị về tiền tệ tại các nền kinh tế mới nổi đóng một vai tṛ quan trọng . Sự gia tăng mau chóng khối tiết kiệm tại Trung-Hoa từ năm 2004 đến 2007 chủ yếu do họ không chịu nâng giá đồng nguyên , đă đẩy số dự trữ thuộc khối các nền kinh tế mới nổi lên đến co số 5,000 tỷ dollar tức là tăng gấp 5 lần kể từ năm 2000 .

 

 

 

 

 

Nguồn tài chánh khổng lồ này khi bơm vào thị trường đă đẩy lăi xuất dài hạn xuống thấp . Lăi xuất dài hạn tại các quốc gia giầu đă ở mức thấp ngay cả khi Fed và nhiều ngân hàng Trung-Ương tại nhiều quốc gia giầu có khác đă tăng lăi xuất ngắn hạn lên trong năm 2004 . Ông Greenspan  đă gọi đó là t́nh trạng hóc búa nhưng đă không làm ǵ để ngăn chặn bằng cách tăng lăi xuất thêm nữa một cách mau chóng hơn .

 

Rơ ràng là  Bretton Woods II đă làm bộc phát tín dụng và đẩy các nền kinh tế mới nổi đi đến chỗ quá nóng . Đó không có ǵ là ngạc nhiên cả . Khi vốn lưu chuyển th́ các chính phủ điều chảnh tiền tệ của ḿnh và đi đến chỗ mất kiểm soát đối với hệ thống tiền tệ quốc nội . Khi ngoại tệ đổ vào người ta mua ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ , điều này làm gia tăng khối tiền tệ lưu hành đương nhiên cũng là đầu mối của lạm phát . Các ngân hàng trung ương muốn thu hồi số ngoại tệ này bằng chính sách khuyến khích việc mua công trái cũng như đ̣i hỏi các ngân hàng thương mại phải tăng tỷ lệ kư thác pháp định . Vài quốc gia đặc biệt là tại Trung-Quốc đă bất ngờ thành công trong chính sách này , nhưng không một chính sách nào trong các chính sách ấy hoạt động hoàn hảo cả , hậu quả là tín dụng quốc nội mở rộng mau chóng và dẫn đến lạm phát .

 

Ngay cả đối với các nền kinh tế đa dạng ( như Mỹ ) cũng không tránh khỏi các hệ lụy do đồng tiền của họ gây ra . Việc cắt lăi xuất trong năm 2007 và 2008 cũng chỉ là nhắm đáp ứng với nền kinh tế yếu kém cũng như các áp lực về mặt tài chánh đối với kinh tế Mỹ mà thôi . Nhưng điều đó lại làm cho dollar giảm giá và đẩy hệ thống tiền tệ đến chỗ không c̣n kiểm soát được nữa tại nhiều quốc gia mới nổi nơi mà nền kinh tế của họ vốn đă vượt ngoài tầm với của chính họ .

 

 

 

Năm 2008 , theo ước tính của  IMF ( Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế ) th́ các quốc gia mới nổi đă tăng trưởng quá mức trong thời gian bốn năm vượt ngoài khả năng thực của họ . Lạm phát gia tăng không kể lương thực và năng lượng . Tất yếu cần tăng lăi xuất . Vào tháng ba năm nay dựa vào số liệu thống kê của 26 ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi th́ lăi xuất qua đêm đă ở số âm . Điều đó cho thấy lạm phát nảy sinh là do cả hai phía khi các nền kinh tế mới nổi cứ tiếp tục bộc phát trong khi nền kinh tế Mỹ suy trầm , đồng thời với một hệ thống tiền tệ được  điều hành sai đă liên kết cả hai lại .

 

Nỗi đau đầu là giá cả hàng hóa gia tăng cùng với đà gia tăng lạm phát trên khắp thế giới  trong khi khủng hoảng tài chánh sâu rộng tại các quốc gia giầu . Thường th́ khủng hoảng ngân hàng thường dẫn đến t́nh trạng không lạm phát hoặc giảm phát khi giá chứng khoán giảm , tín dụng bị xiết chặt và kinh tế chậm hẳn lại  . Tại Mỹ  nơi trung tâm của băo lốc th́ lạm phát trong mùa hè này đă tăng lên đến mức độ chưa từng thấy trong hai thập niên qua .

 

Giá cả hàng hóa gia tăng đẩy lạm phát đến chỗ nguy hiểm là điều khó giải thích . Các ngân hàng trung ương  coi việc giá cả gia tăng chỉ là ngắn hạn và đẩy lạm phát gia tăng cũng chỉ là tạm  thời , hay đây là biểu hiện của áp lực của giá cả để họ phải tăng lăi xuất .

 

Các ngân hàng trung ương đă hành động khác nhau trước vấn đề này , đặc biệt tại Nam-Mỹ họ đă tăng lăi xuất một cách mau chóng theo truyền thống để đẩy lùi lạm phát trong tầm kiểm soát. Các quốc gia khác đặc biệt tại Á-Châu họ để lâu hơn rồi mới điều chỉnh ngay cả khi lương bổng đă gia tăng và đ̣i hỏi là cấp bách . Sợ lạm phát tăng hai con số , như Ấn-Độ đă ban hành các biện pháp nghiêm ngặt trong khi Mă-Lai nơi mà tỷ lệ lạm phát là 8.5% , họ không làm ǵ cả .

 

Tại khối các quốc gia giầu th́ Âu-Châu lo sợ lạm phát hơn Mỹ v́ các thanh toán đều xuất phát từ trung tâm và lương bổng tăng theo giá cả . ECB ( Ngân hàng trung ương Âu-Châu ) tăng lăi xuất hồi tháng bảy , ngân hàng Thụy-Điển tăng lăi xuất trong tháng chín . Nhưng mọi người đều âu lo chả biết tương lai ra sao khi liên hệ giữa khủng hoảng tài chánh với lạm phát .

 

Trong vài tuần qua cường độ có giảm đi không phải nhờ các biện pháp thích ứng . Mức cầu trên quy mô toàn cầu đă giảm mau lẹ trong mùa hè , kinh tế trở nên u ám hơn . Kinh tế chậm lại đă đẩy giá cả hàng hóa giảm xuống và làm thay đổi dự kiến lạm phát tại các quốc gia giầu . Chỉ nh́n con số mà nói khi giá dầu thô ở mức 100 dollar sẽ đẩy lạm phát ở Âu-Châu xuống 2% và tại Mỹ xuống 1% trong ṿng một năm . Khi cả hai vùng này đi vào hoặc gần như đi vào chiều hướng ấy th́ kinh tế sẽ tăng trưởng trở lại một cách mau chóng để đẩy lùi lạm phát . Khủng hoảng tài chánh trong tháng chín , nỗi sợ v́ chủ trương cô lập , cùng với lạm phát dù ở mức độ nào đó . Nhưng do giá cả tổng quát đă giảm nên t́nh h́nh là có thể kiểm soát được .

 

Từ lạm-phát đến giảm phát

 

Đây chỉ là dự kiến . Giảm phát sảy ra do mức cầu giảm trong khi mức cung tăng là rất nguy hiểm . Giá cả giảm làm cho người tiêu dùng không dám tiêu xài lại làm cho mức cầu giảm nữa và giá cả giảm theo . Điều này sảy ra đối với nền kinh tế nợ nần nhiều , như người Nhật đă trải qua kinh nghiệm đau thương hồi 1990 . Gánh nợ thực sự trở nên nặng nề hơn khi giá cả giảm sút . Cho dù quốc gia ấy muốn ǵ đi nữa th́ cũng đành bó tay khi nợ đă ngập đầu .

 

Các nền kinh tế giầu đă lâm vào cảnh “ lạm phát v́ nợ “ ( debt deflation ) . Kết hợp giữa giá nhà giảm cùng với khả năng tiếp cận tín dụng đă đẩy con nợ đến chỗ cắt giảm chi tiêu và bán đi các tích sản , điều này lại thúc đẩy giá nhà và chứng khoán đi xuống . Kinh tế gia nổi tiếng Irving Fisher năm 1933 đă nêu bật vấn đề này khi cho rằng cái ṿng luẩn quẩn ấy sẽ dẫn đến suy thoái kinh tế . Mức tiêu thụ tổng quát giảm có thể làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn hẳn . Khi ngân hàng trung ương không thể cắt lăi xuất dưới không điểm th́ giảm phát đă thực sự tăng lăi xuất rồi , đẩy kinh tế chậm lại và giá trị nợ thực đă tăng . Nợ trong khu vực tư nay đă quá lớn so với hồi 1930 cho nên suy thoái hiện đại là một cái ǵ đó có vẻ rất khó chịu . Nhưng vẫn c̣n bốn lư do khiến giảm phát sẽ gây nguy hiểm trong tương lai mà các nhà làm chính sách có thể tránh được .

 

Thứ nhất giá lương thực và năng lượng rất dễ giao động , giá cả các loại khác không thể giảm dễ dàng . Tại các quốc gia giầu có th́ mức độ lạm phát c̣n phải lâu dài mới đạt đến mức số không . Không thể thay đổi mau chóng được , tại Nhật t́nh trạng giảm phát chỉ sảy ra bốn năm sau khi quả bong bóng tài chánh bị nổ tung .

 

Thứ hai , ngân hàng trung ương ngoài Mỹ vẫn c̣n nhiều tiền . Với 4.25% mức dự trữ pháp định, ECB ( ngân hàng trung ương Âu-Châu ) có đủ phương tiện để điều chỉnh khi suy thoái .

 

Thứ ba , người Mỹ hiểu rơ vai tṛ của tài chánh công trong việc ngăn chặn lạm phát v́ nợ , bây giờ họ cần dùng tiền thuế để cứu nền tài chánh bị khủng hoảng để làm giảm nhẹ các hệ quả .

 

Cuối cùng và ít thú vị là : sau nhiều năm giá dầu gia tăng đă đẩy các nền kinh tế giầu có đến chỗ tăng trưởng kinh tế bị giới hạn bằng cách giảm sản xuất đối với các sản phẩm đồ điện cũng như gia tăng phí tổn vận chuyển . Kinh tế yếu kém ít dẫn đến lạm phát hơn .

 

Cuối cùng th́ các nhà làm chính sách tại thế giới giầu có có rất nhiều công cụ để đánh đuổi nạn giảm phát . Nhưng nạn nổ bóng gây ra bởi các quốc gia giầu cũng như các quốc gia mới nổi , hôm nay đây nh́n dưới khía cạnh kinh tế đại tượng th́ quyết định chính yếu gây ảnh hưởng nằm ngoài quyết định của Mỹ , Nhật hay Âu-Châu .

 

Do thế các quốc gia mới nổi cần đóng một vai tṛ tích cực , Nếu cứ vẫn như hôm nay th́ nước lớn nhất trong số họ tuy có chậm lại mặc dù không bị khủng hoảng ( Tầu) , để rồi lại đi trở lại với nạn tăng giá , gia tăng tiêu thụ tại các nền kinh tế mới nổi nhằm xuất khẩu đến các quốc gia giầu có nhờ nợ nần của các quốc gia này .

 

Tính uyển chuyển tại các thị trường mới nổi thực ra cũng chả có ǵ bảo đảm . Họ chịu ảnh hưởng bởi chu kỳ mà Bretton Woods II đă đề ra dựa vào nền kinh tế các nước giầu như sau : tiết kiệm do thặng dư tới , vội làm giầu . Bây giờ thị trường chứng khoán các nơi chao đảo , nhà đầu tư đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi ở Á-Châu sợ lạm phát gia tăng và giá cả giảm ( như tại Nam-Mỹ) . Nhiều quốc gia Đông-Âu luôn giữ cho cán cân thanh toán bị thâm thủng nhờ tín dụng dễ dàng nay chắc phải đối diện với các khó khăn nhất định . Nhưng các nền kinh tế lớn như Trung-Quốc chẳng hạn xem ra vẫn phát triển . Nếu kinh tế thế giới bị suy thoái th́ xem ra Trung-Quốc có thể là người ra tay cứu chữa .

 

Trung-Hoa , kẻ cứu hộ

 

Trung Cộng đă bày tỏ mối quan tâm về kinh tế bị chậm lại , giảm mức dự trữ pháp định và cắt giảm lăi xuất . Nhưng dưới tầm nh́n về viễn ảnh toàn cầu th́ rất tốt cho Trung-Cộng nếu họ nới lỏng chính sách về ngân sách cũng như để cho tiền tệ của họ được định giá cao hơn . Nước này đang gia tăng chi tiêu cũng như để cho tiền tệ của họ được tăng giá mau hơn , điều đó sẽ làm giảm thiểu nạn giảm phát tại cả hai khu vực Âu-Châu cũng như Mỹ khi giá trị đồng Euro cũng như dollar giảm giá so với đồng Yuan của Trung-Hoa .

 

Cố t́nh giữ giá  tiền tệ một cách cứng rắn là đầu mối của vấn nạn hiện nay , để cho tiền tệ được uyển chuyển hơn là biện pháp giải quyết bế tắc ấy . Và trong trường kỳ cách thức mà các nền kinh tế mới nổi ứng phó với biến cố hôm nay sẽ là định hướng cho nền tài chánh toàn cầu trong tương lai .

 

4        -  VẠCH RA CON ĐƯỜNG KHÁC 

 

Liệu các nền kinh tế mới nổi làm thay đổi định hướng đối với tài chánh toàn cầu như thế nào ?

 

Nước Mỹ là mẫu để Trung-Hoa bắt chước như lời nói của Yu Yonding , một kinh tế gia hàng đầu ở Bắc-Kinh , “ nhưng bây giờ th́ mất hướng nên chúng tôi phải nghĩ lại  “

 

 Tương lai của nền tài chánh toàn cầu lệ thuộc vào việc Bắc-Kinh nghĩ lại như thế nào ? cũng như đối với các nền kinh tế mới nổi khác nghĩ sao ? Nh́n chung các tín hiệu là lẫn lộn , ngay cả trong ḷng một quốc gia . Như Ấn-Độ chẳng hạn , Ngân-Hàng Trung-Ương - vốn được coi là có truyền thống cởi mở - mới đây đă thay đổi hướng đi khi không cho phép trao đổi các tín dụng xấu với lư do là thời điểm này hoàn toàn không thuận lợi cho các cải cách như vậy . Nhưng cuối tháng tám Ấn-Độ đă cho phép chuyển đổi tiền tệ , điều này cho phép người Ấn có được phương cách để bảo vệ tài sản của họ trước việc đồng rupee của Ấn-Độ bị giao động .

 

Trung-Quốc luôn lớn tiếng nói về sự đổ vỡ của Wall Street  . Nhưng như nhiều quốc gia giầu có khác từ Úc hay Anh Quốc đă ngăn chặn việc bán lỗ chứng khoán nhằm ngăn ngừa thị trường xuống thấp hơn nữa th́ tại Trung - Quốc , chính phủ lại cho phép các nhà đầu tư mua chứng khoán bằng tín dụng và bán lỗ .

 

Nh́n chung , thái độ của các nền kinh tế mới nổi đối với nền tài chánh thuộc khối Anglo-Saxon tỏ ra rất thực dụng , xuất phát từ bài học về khủng hoảng tài chánh mà họ phải chịu hồi 1990 mà nay Wall Street đang trải qua . Cuộc khủng hoảng này ảnh hưởng rất sâu rộng đối với đối với nền kinh tế các nước giầu có chưa hề trải qua . Mexico chẳng hạn GDP giảm 6%  trong năm 1995 , Indonesia giảm 13% trong năm 1998 .

 

Các đổ vỡ này dậy ta một bài học lớn : nợ ngoại trái là một nguy hiểm rất lớn . Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế đă cố tránh t́nh trạng này bằng mọi giá và luôn đ̣i hỏi gắt gao là cần gia tăng số dự trữ ngoại tệ . Các nước giầu chẳng hạn luôn duy tŕ dự trữ ngoại tệ tương đương với 4% của GDP ; hầu hết các nền kinh tế mới nổi giữ mức dự trữ này , nhưng trong thập niên qua  tỷ lệ này đă tăng lên đến 20% . Trung Quốc đă có dự trữ ngoại tệ đến 1,800 tỷ dollar , tám nền kinh tế mới nổi khác có dự trữ trên 100 tỷ dollar .

 

Nh́n chung đây là đ̣n bẩy rất tốt đối với các nền kinh tế mới nổi . Đó là một lư do khiến các nước này đẽ đáp ứng hơn đối với khủng hoảng hiện nay . Nhưng như đă tŕnh bày trong phúc tŕnh này , canh bài này đă gây ra nhiều ngộ nhận để dẫn đến sự đổ vỡ của tài chánh toàn cầu và tạo ra lạm phát tại quốc nội  . Thách đố đối với các nền kinh tế mới nổi là họ cần tạo ra một hệ thống tài chánh toàn cầu uyển chuyển hơn nhưng vẫn an toàn .

 

Các dữ kiện nghiên cứu thực không đủ để bảo chứng . Sau cuộc khủng hoảng hồi 1990 các kinh tế gia tập trú vào việc t́m hiểu xem bằng cách nào các nước nghèo có thể được hưởng lợi nhờ vào việc mở rộng thị trường tài chánh toàn cầu . Câu trả lời là rất ít . Một bản nghiên cứu  của Viện Brookings năm 2007 được viết bởi Eswar Prasad thuộc Viện Đại-Học Cornell , Raghu Rajan thuộc Viện Đại-Học Chicago và Arvind Subramanian thuộc Viện Nghiên Cứu    Peterson đă khám phá ra rằng : các nước nghèo dựa chủ yếu vào tiết kiệm nội địa để đầu tư th́ tăng trưởng nhanh hơn là nhờ vào tiền từ bên ngoài .

 

Vậy liệu tư bản nước ngoài có thể giúp cho các nền kinh tế mới nổi đáp ứng tốt hơn đối với chấn động bất ngờ sắp tới hay không ? Trong một bài viết khác , Ông Prasad cùng với  Ayhan Kose và Marco Terrones thuộc Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế đă nhận định rằng : mức tiêu thụ mong manh tại các nền kinh tế mới nổi đă gia tăng trong mấy năm qua , các nước nghèo với hệ thống tài chánh yếu kém không thể thích ứng được với nguồn vốn từ ngoài đổ vào . Các nguồn tiền này thực tế  tuôn chảy vào các khu vực phi sản xuất như địa ốc . Như vậy sẽ tạo ra chu kỳ phồn vinh giả tạo với rất nhiều hiểm nguy trong tương lai .

 

Nhưng không phải là toàn tin xấu . Nghiên cứu cũng cho thấy , đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cùng với tích sản đổ vô đă đem theo kỹ năng cũng như cải tiến việc quản trị các công ty . Và chứng cớ hiển nhiên cũng cho thấy : “ cạnh tranh giữa ngân hàng ngoại quốc với tiền của người ngoại quốc dưới dạng chứng khoán đă giúp cải tiến hệ thống tài chánh tại các quốc gia mới nổi . Nhưng rất lâu trước khi Ông Volcker nêu lên nghi vấn về sự khôn ngoan của việc toàn cầu hóa về tài chánh đối với nước Mỹ th́ các học giả đă tập trú vào sự khôn ngoan của việc toàn cầu hóa về tài chánh đối với các nền kinh tế mới nổi .

 

Chả biết đến tháp ngà

 

Nực cười thay , các học giả chậm tiêu chỉ nh́n thấy nền tài chánh của các quốc gia mới nổi đang trong t́nh trạng quá độ trên phạm vi toàn cầu . Công dân các nước mới nổi hiện nay kư thác khoảng 1,000 tỷ dollar tại các ngân hàng ngoại quốc , gấp ba lần so với năm 2002 . Nh́n tổng quát th́ chuyển dịch tư bản sổi liên hệ đến các nền kinh tế mới nổi đă tăng từ giữa thập niên 1990 và gia tăng mạnh mẽ trong vài năm qua . Hướng chuyển dịch đă thay đổi : đầu tư trực tiếp từ ngoại quốc và chuyển dịch cổ phiếu đă tăng nhanh hơn nợ . Tuy vậy t́nh trạng quá độ về tài chánh đă tiến lên một cách rất có ư nghĩa .

 

Toàn cầu hóa về tài chánh đă tiến nhanh hơn một phần v́ chính quyền ít lắng nghe các nhà chuyên môn . Hầu hết đều mở toang cánh cửa cho chứng khoán và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào . Theo số liệu kiểm soát nguồn vốn của Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế ( IMF index ) th́ chỉ có hai quốc gia đóng tài khoản vốn từ 1995 đến 2005 , trong khi 14 quốc gia khác mở cửa toàn diện , số c̣n lại  cũng theo chiều hướng mở cửa rộng răi hơn .

 

Trong khi đó , ngân hàng ngoại quốc giữ một vai tṛ lớn lao hơn hẳn . Năm 2007, 900 ngân hàng ngoại quốc có mặt tại các quốc gia đang phát triển , chiếm 40% tỷ lệ cho vay của ngân hàng so với chỉ 20% trong thập kỳ trước . Tại vài nơi đặc biệt tại Đông-Âu và Nam-Mỹ , ngân hàng ngoại quốc giữ vai tṛ chi phối đối với hệ thống tài chánh quốc nội . Ngay cả Trung-Quốc cũng như Ấn-Độ vốn chủ trương giới hạn hoạt động của ngân hàng nước ngoài cũng đă mở cửa rộng hơn trong thập kỳ qua

 

Quan trọng hơn nữa là các chuyển dịch về tài chánh đă sảy ra mau hơn so với sự chọn lựa đường lối mở cửa . Trong thế giới toàn cầu hóa vũ băo th́ ngay cả quốc gia chủ trương kiểm soát tư bản chặt chẽ cũng sảy ra t́nh trạng vốn chuyển dịch . Một giải thích là càng giao thương nhiều th́ vốn càng chuyển dịch mạnh . Các tiện nghi hạ tầng về tài chánh càng phải lớn mạnh mau chóng để đáp ứng với hệ thống cung cấp toàn cầu . Giao thương càng lớn càng tạo điều kiện để các công ty kiểm soát nguồn vốn bằng giá cao hay thấp khi giao dịch . Và tăng trưởng càng nhanh càng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài cũng như người của quốc gia đó sống ở hải ngoại , họ có thể t́m thấy cách để kiểm soát nguồn vốn của ḿnh .

 

T́nh trạng không minh bạch cũng như phí tổn liên hệ đến chế độ kiểm soát tài chánh đă gia tăng tại các nền kinh tế mới nổi khi họ đi vào toàn cầu hóa . Áp đặt một h́nh thức thuế tạm nào đó nhằm ngăn chặn sự bùng phát bất ngờ về vốn có thể là một công cụ , ngay cả điều ấy vào một thời điểm nào đấy có thể không làm gia tăng sản xuất . Thái-Lan chẳng hạn đă đánh thuế trên nguồn vốn đổ vào thị trường chứng khoán của họ năm 2006, nhưng thị trường giảm mạnh nên họ phải ngưng ngay . Trong đường dài , các quyết định thiếu minh bạch như vậy sẽ gây nhiều tai ương . Trung-Quốc chẳng hạn áp dụng một vài h́nh thức kiểm soát ngặt nghèo nhất trong số các nền kinh tế mới nổi , một phần v́ họ muốn tự cô lập đối với thị trường tài chánh toàn cầu , nhưng sự kiểm soát nhằm ngăn chặn nạn đầu cơ vốn đă chẳng đem lại hiệu quả . Từ tháng bảy Cơ-Quan Kiểm Soát Hối-Đoái  Quốc-Gia ( State Administration of foreign exchange , SAFE ) đă đ̣i hỏi phải có thêm dữ liệu liên hệ đến lợi tức xuất khẩu . Đối với nhiều nhà xuất khẩu nhỏ th́ đây là gánh nặng lớn . Toàn cầu hóa về tài chánh  là bộ phận không thể sai lầm trong việc hợp nhất toàn cầu .

 

Điều đó có nghĩa là , câu hỏi đúng đối với các nền kinh tế mới nổi không phải là nền tài chánh toàn cầu có tốt hay không , mà là làm thế nào để thu lợi tối đa và giảm thiểu phí tổn . Câu trả lời là hăy tin ở thị trường , chẳng hơn chẳng kém , nhưng hăy tránh các sai lầm mà các nước giầu đă vấp phải .

 

Ở trong nước cần ứng dụng nhiều hơn đối với nền tài chánh mới . Các nền kinh tế mới nổi khác biệt quá lớn lao trong việc phát triển nền tài chánh quốc nội , ngay cả vài quốc gia lớn nhất vẫn c̣n tỏ ra rất ấu trĩ một cách đáng ngạc nhiên . Ấn-Độ chẳng hạn có một thị trường cổ phiếu hiện đại nhưng hệ thống ngân hàng của họ th́ thật là chậm phát triển và không minh bạch v́ các luật lệ của chính phủ . Ngân hàng Ấn cấp phát khoảng 40% tín dụng cho các lănh vực ưu tiên như nông nghiệp , và cũng là nơi cấp phát tín dụng cho các công dân đặc biệt để họ trở thành kẻ cho vay không chánh thức .

 

Câu hỏi khó hơn là làm thế nào để giải quyết vấn đề tư bản quốc ngoại . Đầu tiên vẫn là hăy để tiền tệ được uyển chuyển hơn . Nguy hiểm đối với các nền kinh tế mới nổi là : “ mở cửa cho tư bản nước ngoài vào sẽ gây bất ổn . Tiền bạc chuyển dịch ra vào làm cho thị trường tại các vùng nghèo kém giao động lên xuống và ảnh hưởng đến mức cầu thực của nền kinh tế . Các nước cho phép ngân hàng ngoại quốc tham gia thị trường quốc nội sẽ bị ảnh hưởng v́ sự giầu có của họ được đặt ở bất cứ nơi nào trên thế giới . Như sự mất mát của ngân hàng Âu-Châu trong tín dụng địa ốc tại Mỹ chẳng hạn có thể gây ra việc siết chặt tín dụng tại Hungary .

 

Để giải quyết bất ổn này , các thị trường mới nổi cần điều tiết mức cầu theo cách mà các nước giầu đă làm : nghĩa là “ hăy để cho lăi xuất và chỉ giá tiền tệ được uyển chuyển hơn “ . Bằng cách để cho chỉ giá tiền tệ lên hay xuống tùy thuộc vào khối tiền tệ lưu hành  , khi đó nền kinh tế mới nổi có thể tính toán được mức độ kiểm soát đối với thị trường tiền tệ quốc nội . Các công ty cũng như nhà đầu tư tại các quốc gia đang phát triển cần học cách ứng dụng bài học về cách chia sẻ hiểm tai phát sinh đă được hệ thống tài chánh thuộc khối Anglo-Saxon phát kiến . Vài nơi đă làm , như tại Brazil chẳng hạn , thị trường tiền tệ rất hiện đại và rất trong sáng. Nơi khác như tại Á-Châu cần tiến nhanh hơn, cải cách như Ấn-Độ mới đây cần được khuyến khích.

 

 Bằng phương cách chấm dứt hẳn việc t́m cách gia tăng khối dự trữ ngoại tệ , tiền tệ càng uyển chuyển càng tạo cho hệ thống tiền tệ toàn cầu được ổn định hơn . Canh bài dự trữ tiền tệ cần được xử dụng nhằm thúc đẩy thị trường tài chánh quốc nội phát triển . Mùa hè 2008 trong  Journal of Economic Perspectives các Ông Prasad và Kajal đă đưa ra một đề nghị rất đáng quan tâm như sau : “ Quốc gia có số dự trữ ngoại tệ như Tầu hay Ấn nên cho phép các quỹ mutual funds ( quốc nội cũng như quốc tế ) được phép phát hành cổ phiếu bằng tiền quốc nội để từ đó họ có thể mua ngoại tệ từ ngân hàng trung ương  . Các quỹ này ( mutual funds) sẽ đầu tư khắp thế giới nhân danh các cư dân quốc nội . Đó là biện pháp giải phóng nhưng có kiểm soát đối với lượng vốn chuyển dịch ( capital outflows ) , song song với việc h́nh thành các định chế tài chánh mới cũng như các công cụ tài chánh khác ở trong nước  . Các quốc gia xuất khẩu dầu cũng có thể làm như vậy khi chia phần lợi tức dầu cho công dân của ḿnh để rồi cũng đầu tư vào các quỹ  mutual funds . Theo cả hai cách đó việc quản lư ngoại hối tại các nền kinh tế mới nổi sẽ từ từ được chuyển vào khu vực tư . Điều đó cho phép các nhà đầu tư tư nhân tại Tầu hay tại Ả-Rập Seoud đều có thể tham gia vào thị trường Wall-Street .

 

 

 

 

 

Cánh tay quá nặng của chính quyền

 

Chiều hướng hiện nay đang đi ngược lại , chính quyền các nước Á-Châu và các nước xuất khẩu dầu hiện kiểm soát khoảng 7 ngàn tỷ dollar hầu hết dưới dạng dự trữ ngoại tệ , phần c̣n lại thông qua các quỹ do nhà nước quản lư . Bản phân tích do viện Mckinsey đưa ra ước tính là : con số này sẽ tăng lên 15 ngàn tỷ dollar vào năm 2013 . Điều này cho thấy các quỹ do chính phủ quản lư trở thành một lực cực mạnh đối với thị trường tài chánh toàn cầu , tương đương với 41% tích sản của các công ty bảo hiểm toàn cầu , tương đương với 25% của các mutual funds toàn cầu và tương đương với 1/3 của quỹ hưu trí toàn cầu .

 

Thật nực cười là nhiều nền kinh tế mới nổi làm ngơ trước các chỉ trích của khuynh hướng  hoài nghi về thị trường toàn cầu khi lập luận rằng tư bản chuyển dịch trên quy mô toàn cầu là rất nguy hiểm . Nhưng trong chỗ riêng tư , họ không thể chống lại bởi sự cám  dỗ khi thâu tóm và đặt một khối lượng tư bản khổng lồ trong tay nhà nước , điều này làm thay đổi nền kinh tế toàn cầu rất lâu trước khi sảy ra vụ nổ ở Wall-Streets . Ngay cả khi cho rằng các quỹ khổng lồ này được quản lư một cách chuyên nghiệp , th́ việc nhà nước kiểm soát số tích sản khổng lồ cũng làm thay đổi tương quan giữa nhà nước với thị trường . Điều đó  làm gia tăng mối nguy khủng khiếp đối với chủ trương mở rộng thị trường . Nguy hiểm chính là  “ BẢO HỘ MẬU-DICH “ .

 

5        -  V̉NG ĐÀM PHÁN DOHA

 

Tự do thương mại bị đe dọa , nhưng không phải bởi lư do thông thường .

 

Kinh tế trở nên u ám trong mùa hè  , ít ai quan tâm đến sự đổ vỡ của ṿng đàm phán Doha về thương mại toàn cầu . Những người nhiệt t́nh cổ vơ cho tự do thương mại như tờ báo này đă nhấn mạnh nhưng chả ai quan tâm . Sự thất bại  ở Geneva  nơi đặt trụ sở của Tổ-Chức Thương-Mại Thế-Giới ( WTO ) được coi như bóng mờ .

 

Bộ phận t́nh báo kinh tế là một công ty phụ của tờ báo này (Economist) đă thực hiện một cuộc khảo sát toàn cầu đối với các giới chức quản trị các doanh nghiệp trên quy mô toàn cầu  th́ hơn một nửa trả lời là : “ ṿng đàm phán Doha thất bại ảnh hưởng rất ít hoặc không đáng kể , 10% nói là rất quan trọng , 10% nói bảo vệ mậu dịch là đe dọa lớn nhất đối với kinh tế thế giới , nhưng nhiều người âu lo về lạm phát , suy thoái  và khủng hoảng tài chánh “ .

 

Khái quát th́ dó là suy nghĩ hợp lư . Mặc dù nhiều rào cản đă được gỡ bỏ nhưng thành quả của ṿng đàm phán Doha là khiêm nhường , chỉ khoảng 70 tỷ dollar/năm theo ước tính mới đây tương đương với 0.1% của tổng sản lượng toàn cầu . Cộng với ảnh hưởng gián tiếp trong việc thúc đẩy thêm sản xuất th́ kết quả có thể cao hơn , nhưng thật khó để khẳng định rằng ṿng đàm phán Doha -chấm dứt t́nh trạng cô lập- đă làm thay đổi một cách có ư nghĩa đối với tài sản toàn cầu .

 

 

 

 

 

Một phần v́ các cuộc thương thuyết chỉ tập trú vào thuế biểu - với thuế xuất tối đa được Tổ-Chức Thương-Mại Thế-Giới ấn định – trong khi đó nhiều quốc gia đă đơn phương giảm thuế xuất ngay cả dưới mức ấn định , cũng như các rào cản về thương mại như là các mối bận tâm nhất của các nhà buôn . Thẳng thắn mà nói th́ quy mô các công ty vận động hành lang đối với ṿng đàm phán Doha đă giảm hẳn so với ṿng đàm phán  Uruguay .

 

Điều này cho thấy tại sao các công ty đă xem nhẹ mối nguy hiểm của chủ trương bảo vệ mậu dịch . Nước giầu , đặc biệt là Mỹ cứ phiền trách Trung-Hoa măi , nhưng chả tiến bộ ǵ trong việc mở rộng thương mại cả  . Quốc -Hội đă đe dọa trừng phạt Trung-Hoa về chính sách tiền tệ của họ bằng cách tăng thuế cũng như các biện pháp khác nghiêm khắc hơn đối với chủ trương thương mại không ṣng phẳng của họ , nhưng không có đạo luật nào được thông qua . Trên căn bản toàn cầu th́ thuế bán phá giá – là một phương tiện bảo hộ mậu dịch – đă thất bại . Với hệ thống cung cấp nay được mở rộng và trở nên đa dạng nên các cuộc thương thuyết đa phương không c̣n cần thiết nữa  và rào cản thương mại không được hoan nghênh .

 

Trong một thế giới đa dạng như hiện nay th́ các vấn đề đa phương ngày càng nhiều hơn . Cho nên khi ṿng đàm phán Doha không đạt được thỏa hiệp th́ đó là một mối ưu tư không phải chỉ v́ một mức độ tự do thương mại nào đó đă biến mất , mà chính là biểu tượng quan trọng của đàm phán cũng như lư do để đi vào ngơ cụt . Ṿng đàm phán thương mại này là một diễn đàn quốc-tế đầu tiên để các nền kinh tế mới nổi lớn như Ấn-Độ , Brazil , Trung Quốc nắm giữ một vai tṛ trọng yếu . Thất bại trong việc đạt được một thỏa hiệp sẽ gây ra rất nhiều điều tồi tệ trong hợp tác đa phương trong tương lai .

 

Nếu cuộc thương thuyết đi vào bế tắc th́ hướng thương thuyết chuyển qua cấp vùng hoặc song phương , ( đó là điều thực chả hay ho ǵ ) hiện nay đă có 400 thỏa hiệp như vậy hoặc đă h́nh thành hoặc đang thương thảo . Tổ chức Mậu-Dịch Thế-Giới hiện đang rất yếu . Ấn-Độ đă kư kết thỏa hiệp thương mại cấp vùng với ASAEN chỉ trong một tháng sau khi ṿng đàm phán Doha thất bại . Nếu quốc gia mất niềm tin nơi các cuộc thương thuyết đa phương để tiếp cân thị trường tốt hơn , th́ họ có thể quay qua hướng khác để đạt được mục tiêu thương mại của họ .

 

Thất bại trong ṿng đàm phán Doha là mối ưu tư lớn nhất là đối với các học giả tham gia vào việc soạn thảo bản phúc tŕnh đặc biệt này . Thất bại trong phiên họp tháng bảy xuất phát từ chỗ Trung-Quốc và Ấn-Độ nhất mực đ̣i áp đặt thuế xuất nhằm bảo vệ nông gia nước họ nếu bất trắc sảy tới . Ấn-Độ với 200 triệu nông trại đă từ lâu tỏ ra không thích thú ǵ với cạnh tranh quốc tế . Trung-Quốc giữ một vị trí khiêm tốn trong 6 năm thương thuyết của ṿng đàm phán Doha vào phút chót đă đứng sau Ấn-Độ v́ âu lo về an ninh nông nghiệp nếu giá cả nông phẩm  gia tăng phi mă .

 

Mối lo về an ninh .

 

Tâm điểm của ṿng đàm phán Doha liên hệ đến tự do hơn đối với thị trường nông phẩm , lợi ích sẽ không chia sẻ đồng đều với mỗi quốc gia nghèo . Cần nhớ rằng ṿng đàm phán bắt đầu từ năm 2001 - rất lâu trước khi giá cả bộc phát – được tập trú vào việc giá cả nông phẩm quá thấp một cách giả tạo v́ các chính sách của nhà cầm quyền , như việc sản xuất và chế biến xuất khẩu tại các nước giầu hiện nay . Hôm nay trọng tâm chính là chính sách làm giá cả tăng lên như việc  : đơn phương cấm xuất khẩu , trợ cấp cho người tiêu thụ , năng lượng sinh học .

 

Đó là nhận định sai v́ giá cả giao động nhất trong năm qua là lúa gạo v́ được buôn bán nhiều nhất . Buôn bán nông phẩm tự do hơn là con đường tốt nhất dẫn đến việc tiếp cận cũng như giá cả ổn định . Nhưng một thị trường toàn cầu hữu hiệu đ̣i hỏi phải nghiêm ngặt chống lại các rào cản đơn phương đối với xuất khẩu cũng như nhập khẩu , điều lệ của Tổ-Chức Thương-Mại Thế-Giới hiện nay đă làm được rất ít nhằm kiểm soát các giới hạn xuất khẩu trong khi lại tập trú vào việc kiểm soát đối với việc sản xuất năng lượng sinh học ( biofuels ) . Việc này đă làm cho các cuộc thương thuyết  di vào hướng khác .

 

Nghị tŕnh của các cuộc thương thuyết thương mại toàn cầu hiện nay đă vượt ra ngoài giới hạn về nông nghiệp . Trong bài báo gây nhiều tranh căi Aaditya Matto thuộc Ngân-Hàng Thế-Giới và Arvin Subramanian thuộc viên Peterson đă nói rơ là : “ trọng tâm của thương thuyết toàn cầu hiện nay là về vấn đề an ninh liên quan đến thực phẩm ,môi trường và lợi tức “ .  Các vị này cũng đă nêu lên là có rất ít điều luật liên hệ đến dầu khí là mặt hàng duy nhất rất quan trọng . Tổ chức Mậu-Dịch Thế-Giới cấm việc xử dụng hạn ngạch xuất khẩu , nhưng không hề có bất cứ hạn ngạch sản xuất nào để các tập đoàn sản xuất dầu khí thuộc khối OPEC noi theo cả . Nh́n chung th́ WTO cho đến lúc này được trang bị rất tồi trong việc đối phó với các điểm nóng , từ thuế biểu xanh ( green tariffs , thuế biểu chống lại nước nào không hành động khi điều kiện thương mại song phương thay đổi ) chống lại t́nh trạng định giá tiền tệ quá thấp hoặc bảo vệ đầu tư nhằm chống lại các quỹ đầu tư giầu có cũng như các nhà đầu tư khác sở hữu bởi quốc-gia .

 

Việc tháo lui sâu rộng hơn đối với chiều hướng này c̣n lâu , nhưng việc đặt rào cản mới hiện được tán dương . Về vấn đề môi sinh , Quốc-Hội Mỹ đă thông qua đạo luật áp đặt giới hạn thương mại đối với nước nào không hành động nhằm kiểm soát lương khí thải carbon  . Các lănh đạo Âu-Châu cũng đă quyết định trừng phạt nước nào gây hâm nóng toàn cầu . Nhằm chống lại lượng carbon thải ra th́ thuế xuất như vậy là hợp lư nhưng trong thực tế điều đó cũng sẽ cản trở đối với việc hợp tác toàn cầu đối với vấn đề thay đổi khí hậu .

 

Thảm họa đối với các ngân hàng phương tây là do tác động gây ra bởi các quỹ đầu tư hoặc các nhà đầu tư giầu có sở hữu bởi các quốc gia , cho nên chiều hướng bảo vệ đầu tư sẽ gia tăng (protectionist ) cùng với mối ưu tư rất lớn liên quan đến tài nguyên thiên nhiên . Trung-Quốc hiện đang dồn mọi nỗ lực nhằm kiểm soát các quốc gia giầu tài nguyên . Nhằm đối phó với lượng đầu tư trực tiếp khổng lồ từ Trung-Quốc - đa số có kỹ nghệ hầm mỏ - như Úc chẳng hạn hiện nay đang tiến gần đến việc chính phủ tham gia kiểm soát về thực thể pháp nhân (entity) cũng như các tài nguyên thiên nhiên .

 

Một bản nghiên cứu mới đây cuả Hội-Đồng về Chính-Sách Đối-Ngoại (CFR) được thực hiện bởi Matthew Slaughter thuộc Viện Đại-Học Darmouth và David Marchick thuộc Tập-Đoàn     Carlyle đă nêu lên rằng : chỉ trong hai năm qua , 11 nền kinh tế lớn - với tổng kư thác chiếm 40% của FDI (cơ quan bảo hiểm kư thác) trong năm 2006 - đă hoặc đang cứu xét luật mới giới hạn đầu tư nước ngoài vào một số lănh vực hoặc mở rộng quyền kiểm soát của chính phủ , hai vị này kết luận : “ hướng bảo hộ mậu dịch đang h́nh thành “ . Nếu chiều hướng tư bản nhà nước ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với thị trường tài chánh toàn cầu , th́ bảo hộ mậu dịch là chả tránh khỏi .

 

Rất nhiều chính khách bày tỏ mối âu lo về các nhà đầu tư nước ngoài sẽ hành động sai lạc ( xin bạn đọc lưu ư điều này ) . Hầu hết các quỹ đầu tư nhà nước đều được điều hành bởi các nhà quản lư chuyên nghiệp để đem lại lợi tức tối đa , trong khi các điều luật quốc tế nhằm cải tiến tính trong sáng của họ cũng đă được soan thảo rồi ( như thế không thể bắt bẻ họ được , xin lưu ư ) . Nhiều quốc gia đă h́nh thành đủ luật lệ nhằm ngăn chặn các công ty nước ngoài kiểm soát những lănh vực chiến lược nhạy bén , có cạnh tranh cũng như luật pháp đầy đủ cho dù chủ hăng xưởng là ai .

 

Câu hỏi về quyền lănh đạo

 

Trong tầm nh́n về kinh tế đại tượng th́ sự bực bội đối với các nhà đầu tư thuộc tư bản nhà nước cũng là hữu lư thôi , v́ hầu hết số tiền ấy đến từ một nhóm nhỏ quốc-gia độc tài như Tầu, Nga và Ả-Rập Seoud . Tầu đă tăng số dự trữ ngoại tệ quá mau , nếu chỉ đầu tư vào chứng khoán thay v́ công trái tại Mỹ th́ họ có thể mua hơn tất cả các thứ mà người ngoại quốc để ở đây . Như Brad Setser thuộc Hội-Đồng về Chính-Sách Đối-Ngoại (CFR) đă nêu lên trong phúc tŕnh mới đây , tập trú vào sở hữu của các quốc gia độc tài , th́ “đó là mối quan tâm về chiến lược cũng như kinh tế đối với nước Mỹ “ .

 

Hiểm nguy đối với chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch mới cùng các biện pháp chống trả lệ thuộc mạnh mẽ vào mối quan hệ giữa Mỹ với các nền kinh tế mới nổi lớn . Như ṿng đàm phán Doha đă cho thấy, sự lănh đạo tích cực của Mỹ, cho dù không c̣n đủ hữu hiệu, nhưng vẫn c̣n cần thiết cho những tiến bộ đa phương ) . Thương mại trở thành vấn đề chính trị quan trọng và khó khăn tại Mỹ . Theo khảo sát của PEW trên toàn cầu  trong năm nay th́ chỉ có 53% người Mỹ trả lời là thương mại là tốt cho đất nước họ , giảm từ 78% vào năm 2002 . Nhiều khảo cứu khác trong nội bộ Mỹ cho thấy số người ủng hộ chỉ là thiểu số . Đối với nhiều quốc gia khác th́ tỷ lệ này là rất cao  87% tại Tầu , 90% tại Ấn-Độ , 71% tại Nhật-Bản , 77% tại Anh-Quốc , 82% tại Pháp và 89% tại Tây-Ban-Nha .

 

Người thường cũng như học giả Mỹ chia sẻ suy nghĩ này , nhiều kinh tế gia nổi tiếng Mỹ như Ông Paul Krugman giáo sư thuộc viện đại học Princeton đồng thời là b́nh bút của New York Times , Alan Blinder thuộc viện đại học Princeton và Larry Summers là kinh tế gia thuộc Harvard đồng thời là cựu Bộ-Trưởng Ngân-Khố bắt đầu tỏ ra nghi ngờ là liệu mở rộng kinh tế trên quy mô toàn cầu có lợi cho giới trung lưu Mỹ hay không . Hơn cả việc cải thiện đời sống dân Mỹ , các vị này đề nghị : “ mở rộng trên quy mô toàn cầu có thể gây ngưng trệ về lương bổng , cách biệt giầu nghèo gia tăng và mất an ninh sâu rộng .

 

Ông Blinder ưu tư về việc chuyển dịch vụ ra nước ngoài như tại Ấn-Độ có thể gây ảnh hưởng cho hàng chục triệu người  Mỹ trong thập niên tới .Ông Krugman người thực hiện cuộc nghiên cứu hồi thập niên 1990 đă đi đến kết luận rằng “ thương mại chỉ giữ một phần nhỏ trong việc gây ra bất quân b́nh về lương bổng th́ nay ông tin rằng ảnh hưởng đó lớn hơn nhiều v́ nước Mỹ nay buôn bán với nhiều nước nghèo và có quá nhiều việc cần làm . Ông Summers cũng cùng ưu tư khi nêu ra vấn đề là gia tăng tính năng động đối với tư bản toàn cầu sẽ giới hạn vai tṛ của chính phủ Mỹ đối với các chế độ chủ trương thuế thấp .

 

Các kinh tế gia này tránh nói đến chủ trương bảo hộ mậu dịch như một giải pháp, thay vào đó bằng các vấn đề như thay đổi ở quốc nội , bảo hiểm y tế , cải cách giáo dục , hoặc tái phân lợi tức thông qua thuế má . Các vị ấy đă giúp đỡ làm thay đổi các chủ đề trong các tranh luận về chính trị tại Mỹ nhưng vẫn không gây ra các ngộ nhận từ các nhà làm chính sách tại các nền kinh tế mới nổi mà nhiều người trong số họ vẫn thường nói :”nước Mỹ luôn chơi tṛ hai tiêu chuẩn “

 

Giới trung lưu Mỹ đă sống trong điều kiện khó khăn trong vài năm qua và cách biệt lợi tức ngày càng trở nên rộng hơn . Toàn cầu hóa bị kết tội khi hàng trăm triệu công nhân tại các nền kinh tế mới nổi tham gia vào thị trường lao động toàn cầu đă làm cho các công nhân Mỹ kém tay nghề bị cạnh tranh dữ dội hơn . Nhưng phân tích của các chuyên gia cho thấy vấn đề này chỉ ảnh hưởng khiêm nhường so với các vấn đề khác : như sự suy tàn của công đoàn và đặc biệt là việc cách tân kỹ thuật đ̣i hỏi lượng công nhân có kỹ năng cao .

 

Như vậy có chứng cớ ǵ nhiều để ủng hộ cho chủ nghĩa xét lại hay không ? Trong nghiên cứu mới đây của Krugman thuộc Viện Brookings – sau khi nghiên cứu thống kê đă bà tỏ rằng : thương mại hiện giữ một vai tṛ rộng lớn hơn trong việc gây bất quân b́nh lương bổng , nhưng trong quá khứ đă không thể nh́n thấy . Nhiều nghiên cứu khác lại đưa ra kết quả ngược lại , trong bài viết của Runjuan Liu thuộc Viện Đại-Học Alberta và Dan Trefler thuộc Viện Đại Học Toronto lại đưa ra nhận định là việc chuyển dịch vụ qua Ấn-Độ hoặc Tầu chỉ gây ra ảnh hưởng rất nhỏ , nếu có th́ cũng có tính tích cực trong đó .

 

Trong cuốn sách “ Blue-collar blues “ của Giáo-Sư Robert  Lawrence thuộc Viện Đại Học Harvard đă nêu lên nhận định là “ bất quân b́nh lương bổng tại Mỹ khó có thể quy kết cho việc giao thương với nước nghèo được “ . Công nhân tay nghề thấp đă mất vị thế ngay từ thập niên  1980 rất lâu trước khi thương mại nở rộ với Trung-Hoa . Hầu hết các cách biệt tăng mau mới đây chủ yếu là do sự gia tăng rất lớn ở giới rất giầu . Một nghiên cứu mới đây do Christian Broda và John Romalis thuộc Viện Đại Học Chicago thực hiện đă nêu lên là “ buôn bán với Trung-Hoa đă giúp giảm thiểu bất quân b́nh trong tiêu chuẩn sống khi người nghèo khó vẫn có cơ hội mua các sản phẩm với giá hạ .

 

Cho dù các dữ kiện có ra sao th́ giới trí thức Mỹ đă thay đổi quan điểm . Toàn cầu hóa nay ở trong thế thủ ít ra trong nội bộ Đảng Dân-Chủ . Thật bất hạnh , kinh tế thế giới đang rất cần một hướng mới của chủ nghĩa đa phương .

 

6        -  HƯỚNG TỚI SỰ CÂN BẰNG .

 

Càng nhiều tư bản mới , thế giới càng cần chủ nghĩa đa phương mới

 

Khoảng 10 năm trước , khi thị trường tài chánh Á-Châu khủng hoảng , tuần báo Time trên trang b́a đă nói đến “ Ủy-Ban cứu thế-giới “ gồm Alan Greenspan Chủ-Tịch Quỹ Dự-Trữ Liên-Bang Mỹ , Robert Rubin Bộ-Trưởng Ngân-Khố và Lary Summers Phó Bộ-Trưởng Ngân-Khố . Trong phiên họp cuối tuần kéo dài đến đêm , ba vị này đă đưa ra khuyến cáo đối với Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế (IMF) là nên tháo khoán ngân khoản để cứu các quốc-gia Á-Châu đang bị lún sâu trong khủng hoảng tiền tệ , việc này tự nó đă cứu kinh tế thế giới khỏi bị khủng hoảng .

 

Hôm nay cuộc khủng hoảng nặng nề hơn 10 năm trước rất nhiều , nên thật khó ḷng để biết được ai có thể cứu văn kinh tế thế giới đây . Tâm điểm của sóng gió là ở thị trường Wall-Street  nơi mà vị thế của Mỹ cũng như các trí thức Mỹ đang bị phiền hà .  Ông Paulson Bộ-Trưởng Ngân-Khố và Ông Ben Bernanke Chủ-Tịch Quỹ Dự-Trữ đă hành động nhằm ngăn chặn sự lây lan trong hệ thống tài chánh Mỹ , nên thay v́ đổ lỗi cho các chính quyền Á-Châu , các vị ấy yêu cầu Quốc-Hội dùng công chi để cứu thị trường chứng khoán Wall-Street .

 

Nếu khủng hoảng lan rộng ngoài nước Mỹ  , không có bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ ai sẽ lănh đạo . Âu-Châu tuy quen thuộc với nhiều vấn đề của Mỹ , nhưng giới chính trị gia Âu-Châu rất chậm chạp trong việc nh́n nhận các vấn đề của riêng họ . Nước Tầu với túi đầy tiền vẫn đứng yên bên lề . IMF đưa ra khuyến cáo nhưng không có phương tiện để can thiệp .

 

Duy nhất chỉ sự hợp tác của các ngân hàng trung ương các nước giầu có mới làm được việc này , cho dù các chính trị gia nói ǵ đi nữa th́ Ngân-Hàng Trung-Ương Âu-Châu , Quỹ Dự- Trữ Liên-Bang Mỹ , Ngân-Hàng Anh-Quốc đă đổ tiền vào thị trường tài chánh .

 

Vấn đề không phải chỉ là sự thanh toán không thôi mà c̣n là liệu có thể trả được nợ hay không ? Bùng nổ trong địa ốc cũng như bong bóng tín dụng đă làm cho ngân-hàng bị vỡ nợ lớn nhất từ sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế đến giờ , cùng lúc gây ảnh hưởng đến nhiều nước . Các nước giầu có hiện thiếu vốn , nhiều nước không thể trả được nợ , do thế, trị giá tích sản của họ giảm xuống , kinh tế của họ trở nên yếu kém hơn , khủng hoảng trở nên nặng nề hơn  . Bất trắc đă làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi ngân-hàng cạn vốn .

 

Công việc rất khẩn cấp hiện nay là t́m cách ngăn chặn một cuộc khủng hoảng ngân hàng tại nhiều nước , việc này sẽ dẫn đến thảm kịch cho thế giới . Vấn đề xem ra có lẽ cũng không đến đỗi nào nhờ các nền kinh tế mới nổi đă tỏ ra thích ứng tốt hơn đối với khủng hoảng tại các nước giầu có . Vốn hiện có nhiều bên ngoài khu vực các quốc-gia phương tây, giá hàng đang giảm nên các ngân hàng trung ương phương tây tha hồ giảm lăi xuất . Gánh nợ công trái quá nặng , đặc biệt tại Ư , các chính phủ như tại Mỹ có đủ công quỹ nhằm ngăn ngừa t́nh trạng vốn bị cạn kiệt đối với ngân hàng , điều này sẽ làm cho kinh tế giảm sút .

 

 Việc này đang được tiến hành bằng kế hoạch cứu nguy 700 tỷ dollar đối với thị trường tài chánh Mỹ . Các quốc gia khác cũng noi theo . Năm ngân hàng ở Âu-Châu đă bị quốc hữu hóa hoặc mua lại bằng công quỹ trong tuần cuối của tháng chín . Nhiều quốc gia Âu-Châu đă bảo đảm tiền kư thác và trong vài trường hợp kể cả khoản nợ của ngân hàng .

 

Các kế hoạch cứu nguy như vậy xem ra tốn kém và ít hữu hiệu hơn so với việc phối hợp các chính sách nhằm vượt ra ngoài hệ thống tiền tệ nói chung . Thảm kịch ở thị trường có thể giới hạn nếu chính phủ các nước giầu  thỏa thuận một tiến tŕnh chung  nhằm ổn định thị trường và tái tài trợ các ngân hàng . Phối hợp trong việc cắt lăi xuất sẽ tái tạo niềm tin cũng như tạo ra các ảnh hưởng về kinh tế nghĩa là : mối âu lo về lạm phát sẽ bị đẩy lùi tại các quốc gia giầu có .

 

Một kế hoạch phối hợp như vậy cần bao gồm các nền kinh tế mới nổi vào trong đó mới được . Bằng cách mở rộng tiêu thụ quốc nội và để cho đồng tiền của họ được định giá mau chóng hơn bởi thị trường . Trung-Quốc có thể giúp ngăn chặn áp lực giảm phát đối với kinh tế thế giới cũng như giúp việc tăng trưởng trở lại của Âu-Châu và Mỹ , đó là việc khẩn cấp hiện nay .

 

Cũng đă có  Tổ-Chức Hợp-Tác Kinh-Tế Toàn-Cầu như thỏa hiệp Plaza và thỏa hiêp Louvre hồi thập niên 1980 nhằm đẩy dollar xuống hay lên giá . Thỏa hiệp này đem lại kết quả lẫn lộn . Hôm nay vấn đề trở nên sâu rộng hơn và các bên tham gia nhiều hơn . Cho đến khi có được một căn bản cho chủ nghĩa đa phương mới th́ đây là cuộc khủng hoảng lớn nhất từ sau cuộc đại khủng hoảng năm 1930 vậy . 

 

Học bài học đúng

 

Thành công của chiến lược đa phương trong việc ngăn ngừa khủng hoảng sẽ dẫn thế giới đến một thách thức mới : “đó là học bài học đúng” . Nhiều người đổ cho khủng hoảng hiện nay là v́ sự thái quá trong hệ thống tài chánh Mỹ . Trách cứ như vậy có vẻ vững trăi lắm nhưng - như phúc tŕnh đặc biệt này đă chỉ ra – như thế là quá đơn giản hóa vấn đề . Sự vỡ nợ và phá sản có nhiều nguyên do như : đồng tiền quá rẻ , luật lệ lỗi thời , chính quyền thao túng , giám sát tồi . Tất cả các thất bại ấy đều nằm ngoài cũng như trong nước Mỹ

 

Hệ thống tài chánh mới đầy phức tạp cũng có nhiều kẽ hở . Nhưng cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ các chính sách sai lầm trong một thế giới chuyển đổi quá mau cũng như các cải cách qua mau từ thị trường Wall-Street đă tạo ra các bất quân b́nh đối với kinh tế toàn cầu . Các nền kinh tế mới nổi đă tích lũy khối dự trữ quá mau đă cung cấp tín khoản để tạo ra nạn bong bóng về tín dụng  cũng như các ngân hàng trung-ương tại các nước giầu có đă thất bại trong việc ngăn chặn . Tiền bạc bị hướng dẫn sai dẫn ngay đến bất ổn , luật lệ lỗi thời là một vấn đề khác .Ngân hàng thực hiện bảng quyết toán tài chánh theo các quy luật  về vốn

 

Cũng giống như giá nông phầm và năng lượng gia tăng mới đây , thị trường hàng hóa bị đẩy lên cao v́ nạn đầu cơ tích trữ nhưng chủ yếu bởi các chính quyền . Các nước giầu chuyển sang xử dụng năng lượng sinh học đă đẩy giá nông phẩm tăng cao . Các nước nghèo xuất khẩu nông phẩm đă cấm xuất khẩu cũng như giá năng lượng đă làm cho t́nh h́nh trở nên tồi tệ hơn . Tựu chung th́ thảm họa hôm nay xuất phát từ chỗ các nhà làm chính sách  đă phản ứng sai đối với toàn cầu hóa  và làm gia tăng sự giầu có nơi các nền kinh tế mới nổi .

 

Nếu thị trường lúc nào cũng nguy hiểm và nhà cầm quyền không phải lúc nào cũng thông thái th́ bài học nào về chính sách cần noi theo ? Trong điều kiện của cuộc khủng hoảng hiện nay th́ vấn đề là tái tổ chức lại hệ thống tài chánh cho đúng hướng . Chông gai nhiều lắm , như việc ngăn chặn bán tống bán tháo mới đây là một hướng đi đúng nhằm ngăn chặn việc mất mát thêm nữa . Ngay cả một sai lầm nhỏ cho dù có thể tránh được th́ việc cải tiến hệ thống giám sát cùng với luật lệ là vô cùng khó khăn . Các nhà làm luật tài chánh cần nh́n vượt ra ngoài một định chế đặc thù nào đó để vươn tới việc ổn định toàn hệ thống tài chánh như một khối thống nhất . Cho dù chính quyền có mở rộng mức bảo đảm - như đă làm bằng các quỹ thị trường tiền tệ -th́ bây giờ là lúc cần mở rộng quyền giám sát . Các chính quyền có đủ quyền lực để giữ cho thị trường được ổn định bằng cách đ̣i hỏi sự trong sáng , đặt ra các tiêu chuẩn cũng như đặt căn bản cho các trao đổi thương mại .

 

Hành động thái quá c̣n nguy hiểm hơn bất cập ( không làm ǵ cả) . Ngay cả khi thảm cảnh kinh tế có thể tránh khỏi th́ khủng hoảng tài chánh cũng tạo ra một gánh rất nặng đối với người tiêu thụ , công nhân cũng như nhà buôn . Bất măn đối với hệ thống tài chánh mới chắc chắn gia tăng . Mối nguy là những nhà làm chính sách làm gia tăng mức tàn phá không phải chỉ bằng việc gia tăng luật về tài chánh mà c̣n là tấn công trực diện vào quyền của thị trường trong sinh hoạt kinh tế tổng quát .

 

Đó là sự tháo lui nghiêm trọng sau hơn một thập niên thị trường tự do , kinh tế mở cửa và sung măn hơn . Cả trăm triệu người nay tránh khỏi đói kém , cả trăm triệu khác nay trở thành trung lưu . Khi  thế giới xem xét lại sự quân b́nh giữa chính quyền và thị trường , th́ thật bất hạnh thay khi phần đóng góp này làm cho sung măn hơn bị biến mất theo tiến tŕnh duyệt lại ấy .

 

PHẦN II  - MỘT SỐ THỐNG KÊ .

 

1 – Chỉ số giá tiêu thụ  toàn cầu , căn bản năm 2000 là 100 .

 

Năm/Hàng    ; 2000  -   2003  -  2004  -  2005  -  2006  - 2007  -  2008

Dầu                   100   -  110%   -  140%  -  250%  -  210%  -  300% -  500%  hiên đang xuống .

Nông sản           100   -  100%   -  120%  -  120%  -  140%  -  200% -  250% đang giảm

Mọi loại             100%-  100%   -  120%  -  130%  -  180%  -  220% -  250%  đang giảm

 

2        - Dấu hiệu nguy hiểm , lạm phát tăng so với năm trước .

 

Năm / Quốc-Gia   2002  -  2003  -  2004  -  2005  -  2006  -  2007  -  2008

KT mới nổi            6.3%         5%         5%     4.8%       4.3%       4.7%      8.4%  hiện giảm

QG công nghiệp     1.6%        1.7%       1.8%    2%         2.1%       2%        4%

Toàn cầu                 3%           3%          3.7%    3.7%      3.3%       3.8%     6%

 

3        -  Vốn nước ngoài và nợ tỷ lệ % theo GDP

 

Năm/Khối Q/G    1,970    1,980    1,990      2000     2007

Q/G giầu               50%        80%      130%    210%   450%

KT mới nổi và

Đang phát triển     50%        80%      105%    140%    200%

 

4    -    Nợ địa ốc, tính theo tỷ lệ lợi tức

 

Năm / Quốc-Gia     1,990       1,995       2000     2005      2008

Anh Quốc                130%       115%      140%     155%     180%

Đức                          70%         100%       130%     110%    100%

Mỹ                            80%         80%         100%     130%    180%

 

5  -   Trị giá hàng hóa trao đổi, tính theo  tỷ dollar .

 

Năm / loại hàng hóa     98     99    2000    2001    2002    2003   2004  2005  2006   2007

Vàng   tỷ dollar         130     130    130     130        170       200       200     180     600      600

Hàng khác /dầu          130      150    200    180        300       650      650    5,000  6,200    8,200

 

6   -   Tổng số hợp đồng trao đổi, tính theo triệu đơn vị

 

Năm / số hợp đồng         1,993 – 1,995       2000      2005       2008

                                              80                   100          200          450

 

7  -   Giá hàng tiêu dùng , theo ̀MF lấy năm 1960 làm căn bản 100

 

Năm/ giá         1,960       1,970      1,980      2000      2008

Thực phẩm        100         175         80           40          75

Các loại             100        145         90           75           175 

 

8   -   Dự trữ ngoại tệ các nước đang phát triển,  tỷ dollar

 

Năm     1,999     2001      2003      2005     2007      2008

             1,000    1,150       1500       250        4,000      5,500

 

9   -   lăi xuất tại các nền kinh tế đang phát triển  % .

 

Năm   2000     01        02       03         04          05          06         07         08

            5%     19%     4.8%    3.8%     2.5%     3.2%      3.6%     3%        -0.1%

 

10    -  Trị giá các tích sản được quản trị , dự kiến đến năm 2,013 , trillion dollar

 

Quỹ tương trợ / Mutual Fund      58 trillion dollar

Qũy hưu bổng                              50 trillion dollar

Bảo Hiểm                                     36 trillion dollar

Đầu tư của các chính quyền Á-Châu    0.8 trillion dollar

Lợi tức từ dầu hỏa                         0.7 trillion dollar

Quỹ lưu động ( Hedge Fund )       0.3 trillion

 

 

 

 

III   -   NHẬN ĐỊNH VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG HIỆN NAY

 

Phúc tŕnh đặc biệt của Economists về cuộc khủng hoảng hiện nay chuyên chú vào khía cạnh chuyên môn là chủ yếu . Dĩ nhiên với truyền thống Anglo-Saxon đă t́m ra quy luật căn bản của kinh tế là cung - cầu , và rất nhiệt t́nh với chiều hướng thị trường mở rộng trên quy mô toàn cầu , nên giải pháp mà họ đề nghị hoặc nghĩ tới đều đặt căn bản trên chiều hướng hợp tác quốc tế trên căn bản toàn khối thống nhất trong đường dài nhằm tránh các rủi ro có thể tái diễn trong tương lai .

 

Thắc mắc thứ nhất về phương diện chuyên môn là tại sao khối Anglo-Saxon đă đẩy khuynh hướng toàn cầu hóa với nền tài chánh quá hiện đại đi về phía trước quá nhanh trong khi phần lớn thế giới vẫn chưa được chuẩn bị đầy đủ về đủ mọi mặt từ chính trị ,kinh tế đến xă hội và quan trọng hơn hết chính là các mâu thuẫn trên quy mô toàn cầu không hề có bất cứ biểu hiện nào thuyên giảm nếu không nói rằng : vẫn tiềm ẩn các bất trắc sâu rộng giữa các khối văn hóa cũng như chủng tộc về một tầm nh́n về thế giới trong tương lai .

 

Thắc mắc thứ hai là : tài nguyên thiên nhiên cũng như con người và tŕnh độ kỹ thuật hiện được phân bổ và chiếm dụng không đồng đều trên phạm vi toàn cầu , điều này tự nó đặt ra vô vàn mâu thuẫn tiềm ẩn không thể giải quyết dễ dàng được . Nên áp đặt cách giải quyết theo kiểu bỏ chung vào một rổ để tính toán như đă từng hành động tại Hội-Nghị Bretton-Woods năm 1944 xem ra là vô phương . V́ Bretton-Woods năm 1944 là nhằm kết hợp hai bờ Đại-Tây-Dương lại trong một khối thống nhất để tránh đi các mâu thuẫn do Âu-Châu cổ để lại . Hơn 10 năm trước đây , thế giới thiếu hẳn các điều kiện căn bản cho sự kết hợp kiểu ấy .

 

Thắc mắc thứ ba là : Ta coi khủng hoảng hiện nay là biểu hiện rơ nét trong các mâu thuẫn giữa Đông với Tây , giữa nghèo với giầu , giữa toàn cầu hóa với chủ nghĩa quốc gia , giữa chủ nghĩa phân liệt với chủ nghĩa nhân chủ . Như thế bằng cách nào để giới hạn có ư nghĩa vai tṛ của quốc gia trong một thế giới mới mà những nhà chủ trương chính quyền toàn cầu đang thiết định và đang bị nhiều chống đối nhất là đối với các nền kinh tế mới nổi .

 

Dĩ nhiên các học giả thuộc nhà Roschild , Rockerfeller , Krupp , Mitsui , các  viện nghiên cứu lừng danh toàn cầu biết rơ việc ấy ; nhưng chiều hướng toàn cầu hóa vẫn được đẩy mạnh ngay từ thời điểm Đảng Dân-Chủ đang nắm giữ Bach-Cung mặc cho các chống đối từ các công-đoàn Lao-Động Mỹ . Như vậy đằng sau hẳn phải có vấn đề , nên việc giải thích thuần túy chỉ về phương diện chuyên môn không thôi là chưa đủ , đặc biệt đối với những vị nào muốn có được các hiểu biết sâu  xa hơn về chiến lược kinh tế thế giới trong thời gian hơn 10 năm qua .

 

Những lời giải thích của tôi sau đây có thể rất phiếm diện , tuy vậy vẫn có thể là một căn cứ để quư bạn đọc có thể h́nh thành một tầm nh́n đầy đủ hơn về những ǵ đang và sẽ sảy ra , để từ đó rút ra cho ḿnh một nhận định và một thái độ thích đáng đối với tương lai . Mà tương lai không phải chỉ là của cá nhân bạn không thôi , trong chừng mực nào đó c̣n liên hệ tới vận nước sau này nữa .

 

1 – THAM VỌNG CỦA CÁC NỀN KINH TẾ MỚI NỔI .

 

Với Hán .

 

Tại sao trong phúc tŕnh luôn nói đến các nền kinh tế mới nổi lớn như Hán , Ấn-Độ , Nga trong khi họ vẫn nói các quốc gia phương Tây là các quốc-gia giầu có , điều này đáng để ta quan tâm . Trong nhăn quan của các học giả ở Economists th́ dù Hán có thặng dư mậu dịch đến đâu, dự trữ ngoại tệ như thế nào th́ anh vẫn cứ là nền kinh tế mới nổi - nếu không nói là nghèo – so với phương Tây . Điều này cần được nh́n dưới nhăn quan xă hội học mở rộng khi so sánh t́nh trạng của nước này với nước kia .

 

Một nước Hán với 1.3 tỷ dân luôn được cai trị bằng bạo lực bới sắc dân Hán ở phía bắc quả là một sự kết hợp hổ lốn vào một rọ do Hán dựng lên , thử hỏi có bao giờ Hán được yên không để mà phát triển , để mà trở nên giầu có , để mà trở nên văn minh . Thịnh vượng của Hán chỉ là giả tạo không thể bền vững lâu dài được . Mối nguy tiềm ẩn nằm ngay trong ḷng nước Hán , sự chia năm sẻ bảy đối với Hán là tất yếu . Cho nên dù có dự trữ ngoại tệ bao nhiêu th́ rồi cũng tiêu ma thôi . Hán không thể coi là giầu có được .

 

Sự giầu có không đơn thuần chỉ là tiền bạc không thôi mà phải xuất phát từ chỗ tiền bạc lớn do trí tuệ lớn của cả xă hội cùng làm ra và cùng sở hữu - theo cách hiện-đại - th́ sự giầu có ấy mới bảo đảm vững bền lâu dài , như vậy giầu thực phải là giầu về cả vật chất lẫn tinh thần mới được . Hán cũng như các quốc-gia mới nổi thực chưa thể coi là giầu có được . Xử dụng từ ngữ các nền kinh tế mới nổi là quá đúng trong trường hợp này vậy .

 

Tham vọng của Hán lớn lắm , họ rất hănh diện là con cháu Khổng-Minh , Tôn-Tử nên coi thường mọi dân tộc khác . Thời cận đại họ tôn sùng Mao v́ Mao đă có công thống nhất nước Hán một lần nữa , họ tôn sùng Đặng v́ Đặng nối tiếp công việc của Mao trong ư đồ Hán hóa toàn cầu bằng vào cách biết rút tỉa ra các bài học thất bại của Hitler , của Liên-Xô cũng như biết tương kế tựu kế để khai thác các kẽ hở của nền kinh tế toàn cầu để củng cố túi tiền của ḿnh và dùng tiền ấy cùng với khối 1.3 tỷ người đi xâm lăng thế giới một cách âm thầm bằng đủ mọi phương cách khác nhau . Đặng nói : “ mèo trắng mèo đen đều tốt cả miễn sao bắt được chuột là được “ , câu này cần được hiểu là : “ Hán xâm lăng cả đen lẫn trắng , tức là Hán muốn Hán hóa toàn cầu vậy “.

 

Xâm lăng đen th́ dễ thôi . Châu-Phi đang vật lộn với các tranh chấp triền miên về chủng tộc sẽ là mồi ngon để Hán tung tiền mua chuộc, thao túng nhất là trong lúc cả Mỹ lẫn Âu-Châu dường như cố t́nh bỏ ngỏ Châu – Phi đắm ch́m trong vũng lầy chủng tộc . Nam-Mỹ nửa đen nửa trắng cũng chả có vấn đề ǵ v́ cả vùng này đă đắm ch́m trong nạn cướp bóc của các băng đảng ma-túy , chính trị thối nát , mị dân , thiếu hẳn nội lực quốc-gia , dễ chuyển từ tả qua hữu , nên Hán xâm nhập dễ dàng . Nhất là khi Mỹ có vẻ như chả quan tâm ǵ đến sân sau của ḿnh cả .

 

Đối với Mỹ cũng như Âu-Châu , Hán biết các nhà tư bản cần thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm . Vậy th́ đây , nước Hán với thị trường lao động khổng lồ và một thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng , đang sẵn sàng trở thành khu chế xuất khổng lồ cho thế giới . Chủ trương của Hán thật rơ ràng là : “ Hán sẵn sàng hy sinh tất cả để thu gom của cải vật chất cũng như tinh thần của cả thế giới , củng cố các thị trường mới chiếm được , sẵn sàng bán chịu với điều kiện rất ưu đăi đối với mọi thị trường để thực hiện ư đồ xâm lăng bằng hàng hóa trước bằng chính trị và quân sự sau “.

 

Với Mỹ , Hán coi Mỹ vừa là bạn hàng chính yếu vừa là kẻ thù không đội trời chung - có Mỹ th́ không có Hán , có Hán th́ không có Mỹ - cho nên trước mắt cần để dân Mỹ nghiện “ made in China “ cái đă , song song với đà nghiện ngập này Hán t́m cách thao túng từng bước một đối với thị trường tài chánh Mỹ nhờ khối dự trữ khổng lồ mà Hán đă tích lũy được . Đây là một cú tấn công trực diện vào Wall-Street vậy . Hán hy vọng sẽ đủ sức lật nhào Wall-Street trong 10 năm tới song  song với đà củng cố các thị trường khác khi ấy Mỹ có ra tay cũng không c̣n kịp nữa v́ sức mạnh quân sự của Hán cũng đủ sức đương cự với Mỹ ở bất cứ đâu trên thế giới này .

 

Với Ả-Rập Seoud

 

Ả-Rập Seoud , Kuwait , các Tiểu-Vương Ả-Rập tồn tại được và trở nên giầu có là nhờ sự bảo trợ của Mỹ và Anh . Không có sự bảo trợ này về mặt kỹ thuật , an ninh , thị trường th́ dầu thô vẫn nằm trong ḷng đất và cả vùng sa mạc này đều vẫn là hoang mạc mà thôi , người Ả-Rập vẫn cứ phải đi lạc đà đói kém chứ có ǵ để mà nở mày nở mặt với thế giới . Họ không biết cai trị dân họ và cũng không biết đến vị thế mong manh của họ trước các đe dọa từ các kẻ xâm lăng mù quáng khác nguy hiểm hơn hẳn so với Mỹ hay Anh . Việc tiến quân vào Irak cũng như Afghanistan không đơn giản chỉ là vấn đề khủng bố quốc-tế - đó chỉ là cái cớ nêu lên mà thôi - thực chất là Phương Tây nhất thiết phải kiểm soát và điều tiết đối với mặt hàng rất chiến lược này ; không thể để rơi vào bất cứ tay ai khác được v́ điều đó sẽ dẫn ngay đến chiến tranh hủy diệt toàn diện , v́ cơn khát dầu khủng khiếp của con sói Hán như lời tác giả Khương-Nhung trong cuốn sách viết mới đây ( Totem sói ) . Như vậy cuộc chiến Irak và Afghanistan chỉ mới là màn mở đầu nhằm ngăn chặn làn sóng xâm lăng của Hán đến vùng này là chính yếu để từng bước ( sau này ) đặt tất cả vùng này dưới sự bảo trợ của quốc tế trong việc sản xuất, phân phối .

 

Thế giới Ả-Rập nói chung đặc biệt đối với các quốc-gia có trữ lượng dầu lớn mạnh miệng xác nhận quyền làm chủ không thể khoan nhượng đối với tài nguyên dầu khí và quyết dùng  petrodollar để thực hiện mưu đồ bành trướng ảnh hưởng của Hồi-Giáo nhắm vào mọi vùng của thế giới đặc biệt là Châu-Phi . Nhưng đồng thời họ ( chủ yếu là Ả-Rập Seoud ) cũng t́m cách xử dụng thặng dư mậu dịch cùng với dự trữ ngoại tệ khổng lồ để t́m cách thao túng thị trường tài chánh Mỹ cũng như Âu-Châu .

 

Như thế Mỹ cũng như Âu-Châu phải đối diện với hai mũi giáp công về tài chánh từ hai phía đó là Hán và Ả-Rập-Seoud . Việc này những nhà chuyên môn biết từ rất lâu rồi .

 

Trong nhiệm kỳ hai của TT Bill Clinton , khi chủ trương toàn cầu hóa được nở rộ th́ trên làn sóng Đài Tiếng-Nói Việt-Nam Hải-Ngoại , tôi đă lên tiếng cảnh báo về cuộc đụng độ tất yếu phải sảy ra giữa Mỹ với Hán . Không một thính giả nào đồng ư với nhận định như vậy . Nhận định như vậy thực ra dựa vào nhiều đánh giá khác nhau liên quan đến cục diện toàn cầu cách nay hơn 10 năm .

 

Người Mỹ dăng kế

 

Mỹ biết rơ Hán muốn hai điều : thứ nhất là thặng dư mậu dịch để chất cho đầy túi tham trước khi Mỹ thấy đe dọa th́ cũng trễ rồi . Thứ hai : Hán muốn Mỹ chuyển giao kỹ thuật càng hiện đại càng tốt , càng nhiều càng hay để mau chóng lấp đầy cách biệt về kỹ thuật với thế giới .

 

Mỹ đang cần chuyển giao kỹ thuật đă lỗi thời để đưa kỹ thuật mới vào xă hội Mỹ . Muốn vậy cần tạo cho Hán cảm tưởng rằng Hán được trọng vọng trong giao thiệp về mọi mặt , việc này Ông Bill Clinton đóng kịch rất hay với Hán trong khi vẫn chuẩn bị con bài Bin Laden . Như vậy cả hai mặt đều được song hành chuẩn bị ( xin xem lại vụ nổ dưới hầm của ṭa tháp đôi Nữu-Ước , trong khi giáo-sỹ người Ai-Cập bị mù không bị kết tội th́ đủ thấy ). Yahoo rồi Google là thấy rơ .

 

Hán và Ả-Rập Seoud muốn tấn công vào Wall-Street th́ Wall-Street dương kế ra ngay thôi .” Đó là đẩy toàn cầu hóa đi xa hẳn về phía trước với hệ thống tài chánh hiện đại “ . Tại sao như vậy ? Chẳng mấy ai hiểu nổi lắt léo của kỹ thuật này đâu . Xin được lạm bàn vài điều , nếu có sai chỉ xin quư bạn thứ lỗi .

 

Người Mỹ lúc nào cũng nói rằng họ thiếu tiền rồi , nợ quốc-gia không ngừng gia tăng ; kế này dụ Hán và Ả-Rập Seoud mạnh dạn đi vào chủ trương thôn tính Wall Street . Thực có phải là Mỹ nghèo hay không ? Xin giải thích vài điều . Về phương diện kế toán của một công-ty th́ bảng kết toán cuối năm thường khá chính xác v́ dựa vào tồn quỹ cuối năm trước so với tồn quỹ của năm tài chánh , nợ phải trả cũng như nợ của khách hàng được ghi nhận chính xác , hàng tồn kho cũng vậy. Ngân hàng và Sở Thuế dựa vào bảng quyết toán tài chánh để tính thuế cũng như tính chỉ số niềm tin để ngân hàng quyết định xem có chấp nhận cấp tín dụng cho công ty đó hay không . Công ty mà ta nói ở đây là rất bao quát bao gồm cả các cơ quan của chính phủ cũng thế , tuy rằng h́nh thức kế toán có thể có vài điều đổi thay .

 

Nhưng với quốc-gia th́ khác , tổng quyết toán của quốc-gia chỉ là các con số rất tổng quát chủ yếu ghi nhận các chuyển dịch tài chánh xuyên qua biên giới của quốc-gia ấy từ trong ra cũng như từ ngoài vô . Như vậy khi giá cả giao động th́ cứ giao động nhưng con số đă ghi nhận vẫn nằm trên bảng  tổng quyết toán tài chánh của quốc gia . Đây là con số bí mật chả ai biết được ( dường như GAO , tức là cơ quan Tổng kiểm toán Quốc-Gia Mỹ biết về vấn đề này rơ hơn . VNCH trước đây cũng như CS Hà-Nội hiện nay không hề có một bảng tổng quyết toán như vậy ) .

 

Như vậy khi giá giảm ( như giá nhà , hoặc chứng khoán giảm ) th́ người nước ngoài chuyển tiền vô đầu tư chịu thiệt hại chứ về phương diện kế toán quốc-gia th́ con số vẫn c̣n nguyên đó . Người Mỹ cứ thoải mái dùng tiền mua lại các công ty bị vỡ nợ với giá rất bèo , mà các công ty này chủ yếu lại có phần đóng góp chủ yếu của các nhà đầu tư ngoại quốc thuộc các nền kinh tế mới nổi như Hán hay Ả-Rập Seoud hoặc Nga . Việc này giải thích lư do tại sao Bộ Ngân-Khố mời 9 ông chủ tịch các ngân hàng lớn nhất của Mỹ đến Bộ Ngân-Khố họp và bắt buộc các ông ấy phải nhượng quyền làm chủ cho chính phủ Mỹ đối với các định chế tài chánh ấy . Họ phải chấp nhận , nếu không th́ không cho về , như thế đủ thấy là Mỹ đă hành động rất quyết liệt nhằm dành lại quyền làm chủ thực của hệ thống tài chánh Mỹ cũng như thế giới . Dĩ nhiên , khi kế sách được dụng th́ dân Mỹ cũng bị vạ lây nhưng phải chấp nhận và tài sản sẽ được hồi phục khi kinh tế phát triển trở lại trong tương lai tới đây .

 

Đó chỉ mới là vài điều tŕnh bày khái quát . Những ai đă theo dơi diễn đàn trong lâu dài th́ tôi đă hay nói đến việc nước Mỹ có hệ thống tư bản nhà nước cực kỳ tinh vi mà bên ngoài không thể biết được . Ta hăy nói vài điều , Mỹ cũng như Anh là hai quốc gia bậc thầy về buôn bán chứng khoán cũng như hàng hóa . Họ muốn cho giá lên th́ giá lên , giá hàng xuống th́ nó xuống , lên hay xuống th́ họ đều có lời cả hoặc đối phương bị thiệt hại v́ mua giá cao như vậy họ cũng lời gián tiếp . Số tiền lời ấy một năm bao nhiêu chả ai có thể biết . Như thế sức mạnh của họ là sức mạnh rất thâm sâu và rất tiềm ẩn , bên ngoài không thể đánh giá được . Tờ Economist gọi quốc gia giầu với quốc gia mới nổi là đúng quá đi thôi . Cứu nguy tài chánh 700 tỷ hay 7,000 tỷ họ vẫn dư sức làm .

 

Vận dụng thực tế

 

Mấy năm trước đây , vụ Enron nổ ra là một dấu hiệu cảnh báo với Hán v́ Hán bỏ khá nhiều tiền vào đây v́ muốn tham gia thao túng thị trường dầu khí Mỹ , Enron mau chóng trở thành công ty đứng hàng thứ năm trong bảng sắp hạng các đại công ty tại Mỹ , bất ngờ họ cho Enron tan vỡ , Hán có thể đă mất khoảng 100 tỷ trong vụ này nhưng vẫn không tởn , cứ tham lam làm tới nên trúng kế nặng hơn qua vụ khủng hoảng tài chánh hiện nay .

 

Hán muốn mua đứt hoặc phần hùn ( tức là tham gia làm chủ ) đối với các công ty dầu của Mỹ , muốn làm như vậy đối với các công ty tài chánh Mỹ . Mỹ từ chối thẳng thừng , theo tôi suy đoán th́ họ nói với Hán dĩ nhiên bằng cách khéo léo là các anh có thể cho vay dưới dạng tín dụng thông qua các công ty tài chánh ấy . Hán tạm chấp nhận để chờ thời , nhưng thời không đến với Hán như họ nghĩ . Thế là thị trường địa ốc nở rộ với lăi xuất thấp với điều kiện rất dễ dàng do các định chế tài chánh của Mỹ cấp nhưng tiền đằng sau là của Hán .

 

Cách nay ít tháng , trên diễn đàn tôi có nói là : “ việc mua bán nợ là một đ̣n vô cùng độc hại “ nhiều bạn nghe chả hiểu tôi nói ǵ . Trong phúc tŕnh đặc biệt này, tờ Economist đă cho thấy : “ việc mua bán nợ là một phương tiện của nền tài chánh mới hiện-đại “ . Như vậy điều đó có nghĩa ǵ ?

 

Đơn giản là như thế này , một công ty tài chánh mượn tiền của Hán để cho vay địa ốc , dĩ nhiên họ phải trả lời hàng tháng cho người cấp tín dụng ( là Hán ) , đến lúc nào đó họ nói với Hán là : để tiện việc th́ toàn thể món nợ với Hán nay được chuyển thành rất nhiều món nợ nhỏ khác nhau được một công ty lớn mua lại trên tổng số và công ty lớn ấy trách nhiệm về các khoản nợ ấy . Hán phải đồng ư thôi , thậm chí Hán có thể núp dưới b́nh phong công ty ấy để trực tiếp lo các khoản nợ do tín dụng của Hán gián tiếp cấp phát . Như vậy nợ của hai phía nay được thanh toán ṣng phẳng . Tôi gọi biện pháp này là lùa nợ vào một định chế nhất định để dễ dàng cho tan ră th́ ảnh hưởng có thể kiểm soát được . Cho nên chỉ trong hai năm sau này số nợ như vậy ở Freddie Mac và Fannie Mae đă tăng lên đến 80% là thế . Khi mọi việc đă chuẩn bị xong th́ cho biến cố lớn sảy ra bắt đầu bằng việc các ngân hàng không cho nhau vay nóng nữa , thế là thanh toán bị khủng hoảng , tài chánh bị đổ vỡ như ta đă thấy .

 

Đâu là giới hạn của cuộc khủng hoảng này

 

Cách nay khoảng 4 năm tôi luôn nói tới khủng hoảng kinh tế , khi Bear Stein vỡ nợ hồi 2007 , nhiều người nghĩ rằng đây là khủng hoảng thật rồi . Tôi im lặng theo dơi mà không phát biểu ǵ v́ Bear Stein chỉ là màn giáo đầu thử nghiệm mà thôi v́ lúc đó giá cả hàng hóa chưa tăng ( commodity market ) nên Hán chưa quan tâm ǵ nhiều . Nhưng sau đó ít tháng thị trường Thượng-Hải bắt đầu giảm giá chủ yếu do các nhà đầu tư Mỹ và Âu-Châu bán chứng khoán thuộc thị trường này ra nên từng bước đă làm thị trường này mất giá từ từ mà Bộ Tài-Chánh ở Bắc-Kinh không can thiệp . Thực ra th́ thị trường Thượng-Hải tự nó đă là một trái bóng nhỏ bị x́ hơi và tư bản Mỹ cũng kiếm lời qua cú x́ hơi này nhưng ít ai hay biết .

 

Cách nay khoảng gần hai năm khi tôi nói giá dầu sẽ tăng lên 100 dollar/barel , ít ai tin cho đến khi các công ty tài chánh lớn lên tiếng báo động là giá dầu sẽ lên đến mức 150 dollar/barel , nhiều người bắt đầu suy nghĩ lại . Thực ra th́ dầu tăng giá là đ̣n nặng đánh vào Hán  mặc dù có làm gia tăng dự trữ ngoại tệ của Nga , Ả-Rập Seoud , hay Venezuela điều đó không quá quan trọng . v́ giá dầu tăng v́ Mỹ cho giá dollar xuống thấp có phối hợp trên quy mô toàn cầu th́ Mỹ và Anh vẫn kiếm lợi to từ buôn bán trên future nhưng cũng c̣n nhờ ở liên doanh ARAMCO với Ả-Rập Seoud cũng như đại lọai  như vậy với Kuwait hay các Tiểu-Vương Ả-Rập . Thế là Hán mất khối tiền , có thể đến mấy trăm tỷ dollar chứ chả ít đâu .

 

Hán sụp bẫy sập ở Wall Street trong tháng 9 là đ̣n nặng nhất đánh vào Hán . Khoảng 700 tỷ hán mua công trái của Mỹ vẫn c̣n đấy , nhưng nếu Hán thu về ( tức là bán lại cho Bộ Ngân-Khố Mỹ ) th́ Mỹ mua lại ngay , nhưng khi ấy giá dầu sẽ leo thang lên 200 dollar/barel liền và chắc chắn sẽ bị quật lại bằng đ̣n ngưng mua made in China là Hán chết ngay . Hán ở trong thế cân cưa ( xin xem Tam-Quốc-Chí ) là thế .

 

Trước đ̣n cực độc này , Hán ưu tư đủ điều v́ không hiểu Mỹ và Âu-Châu sẽ tung đ̣n ǵ đây ? Chi bằng im lặng chịu trận là tốt nhất . Đó là thái độ của Hán trong suốt mấy tháng qua . Cuộc bầu cử tổng-thống Mỹ đầy kịch tính vừa chấm dứt đă đưa Ông Obama vào Bach-Cung cũng như đảng Dân Chủ thắng lớn ở cả hai viện quốc-hội là một thông điệp rất rơ mà dân Mỹ muốn chuyển đến cho thế-giới , thông điệp ấy thật rơ ràng là :” Tổng Thống Mỹ c̣n là Tổng Thống  của thế-giới , nước Mỹ này dành cơ hội cho bất cứ ai có ḷng với thế giới “ . Dân nhiều vùng trên thế giới rất khích lệ trước diễn biến này , nhưng lănh đạo Hán th́ buồn so v́ Đảng Dân Chủ vốn chống việc chuyển công việc ra nước ngoài và sẵn sàng chủ trương bảo hộ mậu dịch ( protectionism ) .

 

Sau khi Ông Obama đắc cử th́ thị trường phản ứng rất tồi , Down Jones tiếp tục giảm mạnh mà không có bất cứ dấu hiệu nào hồi phục . Kể từ sau ngày bầu cử th́ Đảng Dân Chủ không thể đổ lỗi cho TT Bush và Đảng Cộng Ḥa được nữa rồi . Mặc dù Ông Obama chưa chánh thức nhậm chức , nhưng ban cố vấn kinh tế của Ông hẳn là rất ưu tư về vấn đề này . Nhưng như bản phúc tŕnh đă để lộ ra : “ cứu kinh tế thế giới là ở Bắc Kinh “ câu này nặng lắm v́ nếu kinh tế thế giới có bị khủng hoảng th́ cũng tại Bắc Kinh . Nhưng thử hỏi : “ Bắc Kinh cần gấp rút làm ǵ ? Th́ chả ai biết “ . Đă quá trễ rồi ! Đă quá trễ rồi ! Ngoài việc Bắc-Kinh sẽ làm bậy ( điều này là chắc chắn ) .

 

Như vậy cuộc khủng hoảng chắc chắn sẽ lan rộng trên phạm vi toàn cầu để trở thành khủng hoảng kinh tế chứ không đơn thuần chỉ là tài chánh không thôi . Lịch sử đă để lại là : “ khủng hoảng kinh tế chắc chắn sẽ dẫn đến khủng hoảng chính trị . Thế giới đang rất cần một cuộc khủng hoảng toàn diện như vậy để giải quyết một lần các bất ổn hiện nay đến tận gốc rễ của vấn đề để từng bước đưa nhân loại vào văn minh mới  “ .

 

Xét cho cùng ra th́ nhiều nước như Ả-Rập Seoud chẳng hạn tuy là đồng minh của Mỹ , nhưng t́nh trạng đồng sàng dị mộng là chắc chắn ( Nga-Tầu cũng vậy ) . Mấy chục năm chiến tranh lạnh và thời kỳ chuyển tiếp vừa qua đă làm cho nhiều quốc gia mới nổi xem thường - thậm chí khinh miệt phương Tây - nhưng họ không có bất cứ cơ sở nào đủ để bảo chứng cho hướng đi mà họ chủ trương cả , nếu không nói là đồng nghĩa với phá hoại  “ RẤT CẦN THIẾT PHẢI CÓ MỘT HÀNH ĐỘNG QUYẾT LIỆT NHẰM GIẢI QUYẾT MỘT LẦN TẤT CẢ CÁC VẤN NẠN NÀY , BÂY GỈ LÀ ĐÚNG LÚC .”

 

Cẩn trọng xem xét lại , ta thấy : Ông Bill Clinton chuẩn bị để Ông Bush đi vào Trung-Đông để ngăn chặn Hán xâm nhập vùng này , Ông Bush chuẩn bị rất kỹ lưỡng để Ông Obama đi vào Á-Châu nhằm đập tan ư đồ bành trướng Hán tộc . Hán lo là phải rồi .

 

2        -  HÁN VỚI TA

 

Hán tưởng rằng vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới là cực kỳ khôn ngoan , nhưng Hán quên rằng : Mỹ đă h́nh thành một thứ chủ nghĩa tư bản nhà nước hiện đại hơn hẳn so với tất cả các sự hiểu biết của Hán từ rất lâu rồi nhưng chả ai biết . Kế của Hán chỉ là tṛ trẻ con , kế của kẻ hănh tiến mới có chút của đă lên mặt dạy đời .

 

Ta hiểu Hán quá mà ,  v́ cùng cái gốc Bách-Việt mà ra cả , cho nên nhất cử nhất động của Bắc Kinh chẳng qua mặt được ta đâu . Hán đă từng nói với đám Lê-Khả-Phiêu ,Đỗ-Mười , Nguyễn-Văn-Linh rằng :” các đồng chí nên theo gương của chúng tôi và cùng sát cánh với chúng tôi lấy nền kinh tế thị trường theo định hướng Xă-Hội Chủ-Nghĩa làm phương châm hành động để thực hiện ước mơ : cả thế giới này là của ta , khi ấy các đồng chí muốn ǵ mà chả có . Mỹ là kẻ thù của Á-Châu hết thảy , nên cần chống Mỹ “

 

Nhóm thân Hán lấy làm hănh diện lắm v́ họ Hồ cũng đă từng chủ trương như vậy mà . Thế là chúng cúc cung tận tụy pḥ Hán mà chả c̣n biết ǵ đến dân tộc nữa , cứ mở cửa để Hán tự do ra vào nước ta , bóp méo lịch sử của ta để từng bước biến ta thành tỉnh của Hán , khi hơi tỉnh ngộ th́ đă quá trễ rồi . Ngay ở hải ngoại này cũng chả thiếu kẻ tự nhận là trí thức cũng tiếp tay với Hán - khi mù quáng theo sách vở do Đảng Cộng-Sản thân Hán ấn hành nhằm hủy diệt lịch sử dân tộc – khi viết nhiều bài cũng theo luận điệu ấy . Những kẻ ấy phạm tội phản quốc về mặt văn hóa tư tưởng , rất đáng bị phanh thây ( nếu là Mỹ th́ đi ṃ tôm rồi đấy ) . Những kẻ ấy là ai th́ tự biết lấy .

 

Bây giờ th́ sức mạnh của Hán bị mất một nửa rồi , tất cả các mũi tấn công đă bị bẻ gẫy và thực tế mà nói th́ không có một đại tướng nào khi cầm quân ra trận lại không biết khai thác chiến thắng để đánh tan kẻ thù khi chúng đang bị bấn loạn . Trong kinh tế cũng vậy thôi . Như Ông Vi-Anh có viết mới đây , Hán bị mất khoảng 1,500 tỷ dollar , tiết kiệm của Hán trong 10 năm tan thành mây khói ( công của Ông Bush lớn lắm ) .

 

Hiện nay khoảng 70,000 công ty của Hán đang lâm vào thế ứ đọng hàng hóa không bán được nên phải giảm nhân công . T́nh h́nh này sẽ ngày càng tồi tệ hơn nữa khi kinh tế toàn cầu chậm hẳn lại trong các tháng tới đây . Khu chế xuất khổng lồ dọc theo duyên hải Hán sẽ gặp t́nh trạng cực kỳ khốc liệt khi các công ty ngoại quốc phải đóng cửa v́ không bán được hàng . Khi ấy số thất nghiệp sẽ lên đến con số cả trăm triệu người . Bắc-kinh có săn sàng để giải quyết t́nh trạng đó hay không ? Giải quyết bằng cách nào ?

 

Mở rộng tiêu thụ trong nước theo kiểu như Ông Roosevelt sau cuộc đại khủng hoảng tại Mỹ năm 1930 là điều Hán đang tính tới ( và ta cũng đă dự liệu t́nh h́nh này từ lâu rồi ) nhưng không thể đủ để thu dụng hết  khối lượng mấy trăm triệu thợ thuyền ấy . Nhưng nếu kinh tế toàn cầu bị ngưng trệ trên diện rộng th́ sao ? Lúc ấy cả nước Hán là một quốc-gia chết và đầy hỗn loạn . Đó là truyền thống của Hán khi Hán cố t́nh cướp bóc các nước khác và hoàn toàn không đủ sức để thuyết phục các sắc dân thiểu số ấy thực  tâm quy phục Hán ( anh dốt quá , ai chịu quy phục anh . Nhất là những người ấy lại văn minh hơn anh  trong quá khứ cũng như hiện tại )

 

Hán đi vào chỗ chết th́ các dân tộc xung quanh mới có cơ hội sống lại . Cho nên chẳng ngạc nhiên khi Đức Đạt-Lai Lạt-Ma Tây-Tạng đă từ bỏ chức vụ tượng trưng đối với nhân dân Tây-Tạng lưu vong để nhường quyền cho giới trẻ đứng lên trực tiếp lănh đạo công cuộc chống Hán để khôi phục độc lập cho Tây-Tạng .

 

Khi nội loạn từ bên trong , chắc chắn Hán sẽ phải bung ra bên ngoài thôi , đó là quy luật hành động của Hán . Ông Obama vừa đắc cử th́ Hán đă xúi Myanma tức là Miến-Điện đem quân áp sát biên giới với Bangladesh . Cuộc đối đầu ở vùng biên giới này chủ yếu nhắm vào Ấn-Độ hiện được coi là đồng minh thân cận của Mỹ trong vùng Nam-Á . Thế c̣n với Thái Lan th́ sao ? Việc như vậy đâu c̣n xa nữa , đó chính là các ng̣i nổ để quân Hán nhập cuộc trong vùng Đông-Nam-Á .

 

Dĩ nhiên các chuẩn bị c̣n dài dài đặc biệt liên quan đến t́nh h́nh ở Đông-Dương mà cụ thể ở đay là Viêt-Nam . Vài tháng trước đây chúng tôi có đưa ra dự kiến là Hán sẽ đánh Việt-Nam vào tháng 11 năm nay , nhiều người nghi ngờ không tin . Xin hăy kiểm điểm lại lịch sử , khi quân Pháp đến nước ta vào thế kỷ 19 th́ giặc cờ đen , cờ vàng nhập Việt để chống lại quân Pháp ; trong cuộc chiến Việt-Nam lần thứ nhất từ 1945 đến 1954 quân Mao cũng nhập Việt để dánh lại quân Pháp ( họ Hồ và Đảng CSVN bắt đầu làm mất nước từ hồi đó rồi ) ; trong cuộc chiến Việt-Nam lần hai 1954 đến 1975 th́ quân Hán cũng nhập Việt để dánh lại quân Mỹ . Những việc ấy đảng CSVN cố dấu nhẹm đi để bảo vệ những ǵ mà Đảng CSVN đă tuyên truyền trong dân chúng . Nay Hán ở trong thế dăy chết th́ chúng càng phải hành động quyết liệt hơn nhiều bằng cách tung ra cuộc xâm lăng biển người nhắm vào vành đai phương nam của chúng . Đó là cách duy nhất chúng phải làm để phá vỡ bế tắc từ trong nước Hán . Với chúng vài trăm triệu người chết , chúng chả mảy may động tâm .

 

Nhằm ngăn chặn âm mưu này của Hán , người ta đă đánh thủy công nhắm vào Hoa-Nam cũng như Lào để phá vỡ các kho băi của chúng tại đấy , nhưng việc này chỉ tŕ hoăn được ít tháng mà thôi . Khi t́nh h́nh thế giới chuyển biến để đẩy chúng đi vào tử điạ th́ chắc chắn chúng sẽ hành động như mạng Sina.com và tờ thời báo Hoàn-Cầu đă nói tới trước đây thôi (tức là đánh Việt Nam)

 

Chúng c̣n dự mưu đánh nhiều mặt khác nữa, đặc biệt nhắm vào Mỹ và Âu-Châu có kết hợp với nhóm cực đoan Hồi-Giáo , kể cả bom bẩn hoặc vũ khí nguyên tử . Thế giới không thể xem nhẹ dă tâm này của Hán . Mọi chuẩn bị đă được dự trù nhưng dân thường ít ai hay biết. Xin kể vài việc : Các Tổng Tham-Mưu Trưởng của năm nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Ư đă họp mới đây. Khi các tướng đă họp th́ vấn đề là gần kề lắm rồi , lục quân Mỹ đă được học tập để giữ an ninh trật tự tại nước Mỹ , Ông Biden Phó Tổng Thống cho Ông Obama đă tuyên bố là trong 6 tháng Tổng-Thống tân cử chắc chắn sẽ phải đối diện với thử thách rất lớn , theo tin hôm nay 9 tháng 11 th́ Ông Obama có thể phải cai trị bằng quyết định của Hành-Pháp . Điều đó có nghĩa là ǵ nếu không phải là t́nh trạng khẩn cấp theo đó một số quyền dân sự chắc chắn sẽ bị giới hạn tạm thời .

 

Ngày đó là ngày nào ? Ta chưa thể biết chắc chắn , nhưng nhất thiết sẽ sảy tới chẳng lâu quá đâu . Đánh trả Hán như thế nào là việc ta không lạm bàn ở đây , việc ấy là của thế-giới .

 

Lúc này đây đồng bào trong nước đang vật lộn với lụt , nếu đập thủy điện Ḥa-B́nh , Sơn-La bể th́ sao ? Đó là kết quả của chiến tranh thiên tượng nhắm vào Hán , ta phải chấp nhận đau thương . Mọi người v́ niềm tin tôn giáo riêng của ḿnh xin tập trung cầu nguyện cho đất nước cũng như nước Mỹ và hăy đứng sau lưng Ông Obama - Tổng Thống thứ 44 của nước Mỹ cũng như thế giới – để Ông có đủ nghị lực hoàn tất sứ mạng khó khăn nhưng đầy vinh quang này .

 

Xin đa tạ các bạn hết thảy .

 

San Jose ngày 9 tháng 11 năm 2008 .

 

Lê-Văn-Xương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 ƯỢC TIN KI